Anh Hùng Nguyễn Thị Tuyết
Quê hương Nguyễn Thị Tuyết là xã Văn Tự (trước đây là xã Tô Hiệu) nằm trong vành đai đô thị có trục đường 1A chạy qua. Đầu năm 1947, địch âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng ra khu vực vành đai và các trục đường giao thông lớn. Tô Hiệu là địa bàn quan trọng, địch lập nhiều đồn bốt và tăng cường càn quét làm bàn đạp để tiến vào khu du kích của ta. Khi đó, Nguyễn Thị Tuyết đã tham gia đội du kích và Hội Phụ nữ cứu quốc địa phương. Chị đào hầm ngay trong nhà mình nuôi giấu cán bộ.
Ông Nguyễn Văn Hoàn (em thứ ba của chị Tuyết) nhớ lại: “Bố mẹ tôi mất trong nạn đói năm 1945. Một mình chị Tuyết phải nuôi 5 em nhỏ, em út khi ấy mới 18 tháng tuổi. Những lúc đi hoạt động, chị tôi phải nhờ cậy ông bác ruột trông nom giúp. Có lần mang truyền đơn về nhà, chị giấu vào đống rơm trên nóc chuồng trâu. Nhưng không may trâu kéo rơm xuống làm rơi tập tài liệu. Bọn lính bốt Chằm có tên chỉ điểm đã ập đến nhà bắt chị. Khi đó, chị vẫn bình tĩnh mà trả lời rằng: “Do đống rơm đánh ở ngoài ngõ, người qua đường giúi vào nên nhà không biết mới rút vào cho trâu ăn”. Trước sự trả lời khôn khéo của chị, giặc mới tạm tha nhưng chúng luôn cảnh giác theo dõi chị tôi”.
Tháng 12-1947, đội du kích của chị cùng với bộ đội tỉnh Hà Đông chống càn 4 trận, phục kích đánh mìn 2 trận, diệt 2 toán hương dũng, cảm hóa 16 tên tề ngụy ra đầu hàng. Bị tổn thất, địch củng cố lực lượng tiến hành càn quét mạnh. Nhiệm vụ của chị vì thế thêm phần khó khăn. Ông Phạm Thế Nhương (83 tuổi) là du kích xã kể lại: “Có lần chị Tuyết mang tài liệu từ khu Cháy ra ngoài Thường Tín. Khi đến cánh đồng làng An Lãng, chị thấy có một tốp lính đang tiến lại. Lúc ấy, chị nhanh chóng lội xuống ruộng cấy cùng bà con và thủ tiêu tài liệu. Tốp lính lao xuống ruộng và phát hiện ra đúng “người du kích đỏ”. Chúng bắt chị đưa về bốt. Bị tra tấn bằng đủ cực hình, chị vẫn không hề khai ra cơ sở cách mạng. Tinh thần chị luôn vững vàng, sáng suốt, lợi dụng lúc địch sơ hở, chị tìm cách trốn thoát”.
Ngày 20-4-1950, giặc Pháp dựng lên chi khu quân sự Tía, bên cạnh đó còn có cả một ủy ban chống cộng khét tiếng gian ác. Thế là ngay trên xã của chị có đến 11 đồn tổng, xung quanh là 4 bốt vệ tinh. Địch tăng cường hoạt động càn quét, cơ sở kháng chiến của ta bị tổn thất nặng nề. Giặc bắt được du kích đem bêu đầu ở ngã tư chợ Tía, thủ tiêu cán bộ ta ở bến Dấp, nếu không có chứng cứ thì chúng đưa đi tù giam. Người yêu của chị là đồng chí Phạm Ngọc Thiều, Xã đội trưởng cũng bị địch đánh đắm đò khi đưa đoàn cán bộ qua sông Hồng sang Khoái Châu học tập chính trị. Nén đau thương, chị Tuyết tích cực hoạt động. Chị bảo đảm tốt đường dây liên lạc từ xã Tô Hiệu lên Huyện ủy Thường Tín và vào khu Cháy (Ứng Hòa). Hai năm liền, chị cùng em gái đào hầm bí mật nuôi giấu 40 lượt cán bộ. Cuối năm 1952, chị Tuyết cùng bộ đội địa phương đánh địch ở bốt Tía, riêng chị diệt 3 tên tề ngụy khét tiếng gian ác, làm bị thương 6 tên khác.
Biết chị Tuyết hoạt động cách mạng tích cực, địch đã theo dõi chặt chẽ, không bắt được quả tang nhưng hễ nghi ngờ là chúng lại bắt bớ đánh đập chị dã man. Từ khi hoạt động cách mạng đến năm 1952, chị đã bị bắt 10 lần, nhưng cả 10 lần ấy chị đều xử trí rất khôn khéo và một mực không khai cơ sở cách mạng. Do không có chứng cứ, địch lại phải thả chị ra. Ngày 19-2-1953, chị bị bắt lần thứ 11. Địch đưa chị về giam ở Nhà Tiền (Hà Nội), dùng mọi biện pháp hỏi cung, tra tấn dã man, nhưng không làm chị nao núng. Một tháng sau, nhằm lúc lính gác sơ hở, chị trốn thoát về khu Cháy rồi trở về địa phương tiếp tục hoạt động.



