ANH HÙNG NGUYỄN VĂN KHẠ
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Khạ (1918 - 1947)
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Khạ
(1918 - 1947)
Anh hùng Nguyễn Văn Khạ (còn gọi là Cò Khạ) sinh năm 1918 trong một gia đình trung nông ở ấp Phú Thuận, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Hy sinh trong thời kỳ chống Pháp năm 1947.
Cách mạng tháng 8/1945, Nguyễn Văn Khạ tròn 27 tuổi, sau khi tham gia biểu tình cướp chính quyền ở Sài Gòn về, chính quyền cách mạng lâm thời của địa phương mới thành lập, Nguyễn Văn Khạ được chỉ định làm trưởng Quốc gia tự vệ của xã Phú Hòa Đông. Được sự cộng tác của ông Nguyễn Văn Đò, Lê Văn Tước, đại đội trưởng dân quân và một số cán bộ khác, Cò Khạ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tổ chức phát triển lực lượng dân quân, giữ gìn an ninh trật tự trong thời kỳ cách mạng non trẻ, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Mấy tháng sau, giặc Pháp chiếm lại Phú Hòa Đông, Cò Khạ cùng một số đồng chí ra bưng biền, bám trụ hoạt động. Cò Khạ được phân công phụ trách Quốc vệ đội kiêm trưởng ban phá hoại khu V (gồm 4 xã: An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông)
Cò Khạ đã cùng Quốc vệ đội đánh phá đồn liên tục, gây cho địch nhiều phen hoảng sợ mất ăn mất ngủ, tên tuổi của ông làm cho quân Pháp khiếp sợ.
Tiêu biểu là trận tổ chức đánh đồn Tây bằng “đạo binh la”, sau khi vận động được Đội Dễ trong đồn Thầy Biên đang giữ súng trung liên sẵn sàng làm nội ứng. Cò Khạ tổ chức tấn công đồn này, Nguyễn Văn Khạ liên lạc với 2 đơn vị vũ trang xã An Phú, xã Nhuận Đức. Sau khi được hứa sẽ cho quân hỗ trợ, có 1 súng trung liên, tin chắc chắn Nguyễn Văn Khạ bàn ám hiệu với nội ứng của mình nổ súng diệt đồn là: một loạt trung liên từ ngoài bắn vào đồn.
Ông huy động toàn lực lượng trong xã khoảng 600 thanh niên đến trại ruộng Hào Quý bên sông Sài Gòn, phổ biến mệnh lệnh và tổ chức liên hoan trước khi xuất quân. Sau đó, ông phân công ông Út Nầy chỉ huy lực lượng đẩy 25 chiếc xe bò chở đầy rơm, vừa làm phòng tuyến di động cản đạn cho lực lượng núp phía sau tiến vào đồn, vừa làm chất bổi đốt đồn. Còn ông Hai Huề chỉ huy một bộ phận cưa tre phục mắt làm ống lói (như ống trúm đặt lươn) để đốt tạo tiếng nổ. Tất cả du kích đều được trang bị vũ khí thô sơ như dao mác, tầm vông vạt nhọn…và một bành mũ cao su mang đi để đỡ đạn và đốt đồn. Khi hiệu lệnh nổi lên, nhân dân đồng loạt nổi trống, gõ mõ tạo âm thanh và la vang: “Tiến lên!”. Xã Phú Hòa Đông đêm đó như một trận cuồng phong, bão tố. Trận đánh không thành vì giờ chót các lực lượng vũ trang không đến, trời sắp sáng nên phải rút lui. Tuy không diệt được đồn nhưng bọn Pháp vô cùng hoảng sợ, hàng tuần không dám ra khỏi đồn và quần chúng nhân dân được qua một cuộc diễn tập biểu dương lực lượng nên rất phấn khởi và tin tưởng ở cách mạng. Nhân dân đặt tên cho trận đánh của Cò Khạ là “trận binh la”. Trung tướng Nguyễn Bình đã gửi thư khen “trận đánh táo bạo, dám nghĩ dám làm, biết sử dụng nhân dân áp đảo và nội công ngoại kích”.
Cò Khạ đã nhiều lần phá sập cầu sắt Bến Nẩy được giặc Pháp canh giữ rất nghiêm ngặt, làm cản trở việc giao thông, tiếp tế, hành quân của giặc Pháp. Dụng cụ trong tay chỉ có xà beng nhưng với lòng quyết tâm cao độ, ông đã vận dụng được sáng kiến và sức mạnh của nhân dân phá sập cầu. Giặc Pháp và bọn Việt gian phải đốn rừng ở Đồng Chùa để bắc lại, chúng cướp cả ván ngựa của đồng bào để lót cầu. Nhưng chẳng bao lâu sau, Cò Khạ lại chỉ huy nhân dân phá tan cầu, cầm chân địch.
Tháng 7 - 1947 (âm lịch), trong một chuyến công tác từ An Nhơn Tây đến Nhơn Hòa, đến cầu cá Lăng Ông thì Cò Khạ bị giặc phục kích bắt cùng 2 đồng đội. Biết uy danh của ông nên giặc dùng mọi cách dụ hàng, vì chúng biết rằng chỉ có việc Cò Khạ đầu hàng mới làm uy thế cách mạng sa sút, đồng bào hoang mang ngờ vực. Mặc dù địch mang tiền bạc, địa vị…ra dụ dỗ mua chuộc, nhưng ông kiên quyết từ chối, chúng chuyển sang tra tấn dã man, hết đánh đập, tra điện, đến đổ nước xà phòng pha lẫn phân người rồi đạp lên bụng cho ói ra, lại trói hai tay ngược ra phía sau treo lên trần nhà, dùng giày đinh đá cho hộc từng vũng máu. Thủ đoạn cuối cùng, chúng cho vợ ông bế con đến thăm và buộc khuyên hàng, gợi viễn cảnh một gia đình đầm ấm, vợ con đề huề…nhưng mỗi lần vợ con đến là ông la lối, chửi mắng, vạch trần thủ đoạn của địch và bảo vợ phải về nuôi con.
Ngày 8 - 9 - 1947, thấy rõ âm mưu của địch muốn sát hại mình, Cò Khạ giả vờ xin được nói chuyện với nhân dân ở chợ. Tưởng ông chịu đầu hàng, chúng bố trí một nơi khá cao cho Cò Khạ đứng, rào quây đồng bào lại trong chợ để nghe. Lợi dụng diễn đàn, ông vạch trần bộ mặt của giặc: “Thưa đồng bào! Cò Khạ này không bao giờ đầu hàng giặc đâu. Cò Khạ này chết, sẽ có hàng ngàn Cò Khạ đứng lên! Hồ Chí Minh muôn năm! Đả đảo…”. Không cho ông nói hết câu, chúng vội kéo xuống, đánh đập rồi đưa ngay vào khám giam biệt lập. Đêm hôm đó, chúng bí mật dẫn ông qua dốc Bầu Trâm, xã Tân Trung bắn chết, xô xuống giếng, Cò Khạ hy sinh ngày 9 - 9 - 1947.
Ngày 29 tháng 01 năm 1996, ông Nguyễn Văn Khạ đã được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” (Quyết định số 759/KT/CTN ngày 29 tháng 01 năm 1996 của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Lê Đức Anh ký).
Hiện nay, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Khạ được đặt tên cho Hương lộ 1. Từ liên Quốc lộ 22 đến Tỉnh lộ 15 dài 10.425m (theo Quyết định số 14/2000/QĐ-UB-VX ngày 07 tháng 04 năm 2000 của Ủy ban nhân dân Thành phố).
Thế hệ trẻ hôm nay rất tự hào và biết ơn sâu sắc đối với thế hệ cha anh đi trước, về truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất. Qua đó, giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên ngày nay, góp phần khơi dậy tinh thần, trách nhiệm, ý thức nổ lực phấn đấu trong học tập, lòng tự hào và phát huy nghị lực, trí tuệ. Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng gương mẫu chấp hành mọi chủ trương, đường lối và pháp luật của Đảng, Nhà nước góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.



