ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TIỆP – NGƯỜI THỢ QUÂN GIỚI BIẾN VŨ KHÍ CỦA ĐỊCH THÀNH SỨC MẠNH ĐÁNH GIẶC
Nguyễn Văn Tiệp (1945–1976), quê xã Tân Thành, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, nay thuộc xã Tân Thành, tỉnh Đồng Tháp. Từ một du kích địa phương, ông xin vào công trường sản xuất vũ khí, miệt mài nghiên cứu, cải tiến đạn dược để biến bom, đạn lép của địch thành vũ khí phục vụ chiến trường. Trong 10 năm công tác tại xưởng, ông cùng đồng đội sản xuất hàng nghìn quả lựu đạn, hàng trăm quả mìn, tháo gỡ và cải tiến nhiều loại bom, đạn. Ngày 30-8-1978, ông được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nguyễn Văn Tiệp sinh năm 1945 tại xã Tân Thành, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, nay thuộc xã Tân Thành, tỉnh Đồng Tháp. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi vũ khí, đạn dược của lực lượng cách mạng còn thiếu thốn, ông đang là du kích xã nhưng luôn trăn trở trước thực tế không đủ phương tiện để đánh địch. Từ suy nghĩ ấy, Nguyễn Văn Tiệp xin vào công trường sản xuất vũ khí, bắt đầu một chặng đường gắn bó với công việc quân giới đầy gian khổ nhưng cũng đầy sáng tạo.
Không được đào tạo bài bản về kỹ thuật quân giới, lại thiếu sách vở và phương tiện nghiên cứu, Nguyễn Văn Tiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế, sự nhạy bén và tinh thần không ngại khó để tìm tòi, thử nghiệm. Ý tưởng của ông là tận dụng chính bom, đạn, vật liệu chiến tranh mà địch bỏ lại hoặc không sử dụng được để cải tiến thành vũ khí phục vụ quân ta.
Một trong những sáng kiến tiêu biểu là việc sử dụng liều tống của hỏa tiễn 75 ly để phóng đầu đạn pháo 155 ly. Sau nhiều lần thử nghiệm, ông cùng đồng đội hoàn thiện loại đạn này. Hai quả đạn 155 ly đầu tiên được đưa vào sử dụng, bắn vào cụm pháo Quản Khánh, phá hủy hai khẩu pháo 155 ly của địch. Thành công ấy mở ra khả năng tận dụng những loại đạn thu được của đối phương để tạo thêm sức mạnh hỏa lực cho lực lượng cách mạng.
Không dừng lại ở đó, Nguyễn Văn Tiệp tiếp tục cùng đồng đội nghiên cứu, chế tạo đầu đạn 105 ly và đặt tên là H.300; cải tiến cách sử dụng đạn cối 120 ly bằng súng cối 81 ly; đồng thời cải tiến thuốc nổ TNT thành loại “gói giá”, còn gọi là “320”, được sử dụng hiệu quả trong các trận đánh đồn địch. Những sáng kiến xuất phát từ thực tế chiến trường đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu vũ khí, đạn dược và nâng cao khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương.
Trong công tác sản xuất lựu đạn, Nguyễn Văn Tiệp tiếp tục cải tiến các loại khuôn đầu, khuôn tim, khuôn kim hỏa, khuôn gọt tay thắng, qua đó nâng năng suất lên gấp bốn lần. Trong 10 năm công tác tại xưởng, ông cùng đồng đội sản xuất 7.904 quả lựu đạn, 145 quả mìn, tháo gỡ 1.200 quả bom, pháo lép của địch và cải tiến 770 quả đạn các loại, gồm đạn DKZ, pháo 155 ly, 105 ly, cối 120 ly, 81 ly, 82 ly, 60 ly, B40, B41 để phục vụ chiến đấu.
Đằng sau những con số ấy là những tháng ngày người cán bộ quân giới phải làm việc trong điều kiện hết sức thiếu thốn và luôn đối mặt với hiểm nguy. Mỗi lần tháo gỡ bom, đạn lép hay thử nghiệm một loại vũ khí mới đều có thể xảy ra tai nạn. Nhưng bằng lòng say mê, tinh thần trách nhiệm và quyết tâm tìm cách đánh địch, Nguyễn Văn Tiệp cùng đồng đội đã biến những thứ tưởng như phế bỏ thành phương tiện chiến đấu hữu hiệu.
Những đóng góp của ông không chỉ nằm ở số lượng vũ khí được sản xuất mà còn ở tinh thần sáng tạo, tự lực của lực lượng quân giới Đồng Tháp trong chiến tranh. Từ những vật liệu thu được trên chiến trường, người thợ quân giới đã tìm cách tạo ra vũ khí mới, góp phần bổ sung hỏa lực cho bộ đội và du kích, phục vụ trực tiếp các trận đánh trên quê hương.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Nguyễn Văn Tiệp ba lần được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, ba lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ Quyết thắng cùng nhiều bằng khen, giấy khen. Ngày 30-8-1978, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Nguyễn Văn Tiệp. Khi được tuyên dương, ông là Thiếu úy, Phó Giám đốc Xưởng sửa chữa cấp III Tỉnh đội Đồng Tháp, đại biểu Quốc hội khóa VI.
Nguyễn Văn Tiệp từ trần ngày 26-6-1976 và được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh. Dù cuộc đời khép lại khi mới 31 tuổi, những sáng kiến và cống hiến của ông vẫn để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử lực lượng vũ trang Đồng Tháp.


