Anh hùng Phạm Kiều Đa và ký ức không quên
Anh hùng Phạm Kiều Đa và ký ức không quên
Sinh ra trong một gia đình tại vùng nghèo ở huyện Hòa Vang (TP. Đà Nẵng), từ nhỏ, chứng kiến tội ác của Mỹ, ngụy trên khắp nẻo quê hương, ông Phạm Kiều Đa – nguyên Quận đội phó quận Nhất Đà Nẵng, nguyên Chỉ huy trưởng Biệt động tự vệ cánh Đông Đà Nẵng, vô cùng căm hận. Đầu năm 1964 lợi dụng sự mâu thuẫn của nội bộ quân ngụy, ông cùng lực lượng nòng cốt của thanh niên, sinh viên và nhân dân Đà Nẵng đứng lên đấu tranh biểu tình đòi bãi khóa, bãi trường, bãi thị, đình công, dân sinh, dân chủ và nắm giữ chính quyền suốt 9 ngày đêm.
Nhớ về chiến dịch giải phóng Đà Nẵng cách đây 50 năm trước, ông Đa bồi hồi: “Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng, cuối tháng 3/1975, tôi được Bộ Tư lệnh tiền phương tin tưởng giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng biệt động thành trinh sát, điều nghiên, đánh chiếm Quân đoàn bộ Quân đoàn 1, Tòa thị chính, Quân vụ thị trấn – Biệt khu Quảng Đà và Đài Phát Thanh của ngụy. Đây là những mục tiêu quan trọng nằm giữa lòng thành phố, được kẻ địch xây dựng kiên cố và tuần tra, canh gác, bảo vệ suốt ngày đêm”.
Ngày 24/3/1975, tỉnh Quảng Nam hoàn toàn giải phóng, hai ngày sau, đến tỉnh Thừa Thiên Huế được giải phóng, khiến quân địch tại Đà Nẵng rất hoang mang, lo sợ. Ngày 26/3, chiến dịch giải phóng Đà Nẵng chính thức bắt đầu với khẩu hiệu 5 nhất “nhanh chóng nhất; kịp thời nhất; táo bạo nhất; chắc chắn nhất và chắc thắng nhất”. Ông Phạm Kiều Đa và ông Huỳnh Ngọc Châu trực tiếp giao nhiệm vụ cho Đội biệt động Hòa Cường – do đồng chí Trần Tiến chỉ huy lên phương án tác chiến, diệt ác ôn, chốt giữ khu vực ngã tư Quân đoàn 1 nhằm ngăn chặn đường tháo chạy của địch và dẫn đường cho quân chủ lực của ta tiến vào.
Quá trình tấn công tiêu diệt Quân đoàn bộ Quân Đoàn 1, 20 chiến sĩ biệt động thành của Mũi 1 đã cải trang thành dân chài, dùng ghe máy đi theo hai hướng, bí mật áp sát, nổ súng đánh địch tại cầu Trịnh Minh Thế (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), khiến chúng rối loạn, phải vứt vũ khí và tháo chạy; Đội biệt động phối hợp với các lực lượng của Sư đoàn 2 (Quân khu 5) nhanh chóng chiếm lĩnh trụ sở Quân đoàn 1.
Khi ông Đa chỉ huy các lực lượng của Mũi 1 tiến vào Tòa thị chính thì nơi đây không còn một bóng người. Xác định kẻ địch đã tháo chạy, ông ra lệnh cho các bộ phận quan sát, cảnh giới, từng bước rà phá bom mìn, vật nổ, thu gom chiến lợi phẩm, tuyệt đối không được làm hư hại các trang bị, vật tư, máy móc, công trình. Đúng 11h30 phút trưa ngày 29/03/1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được các chiến sĩ biệt động thành giương cao trên nóc Tòa thị chính, báo hiệu dấu chấm hết cho sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại miền Trung.
Kể về những đồng đội đã anh dũng hi sinh, giọng ông Đa trùng xuống: “Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có hàng chục cán bộ, chiến sĩ Biệt động tự vệ cánh Đông Đà Nẵng anh dũng hi sinh. Chiều tối ngày 28/03/1975, khi tham gia chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, đồng chí Đặng Công Khanh – nguyên Quận phó quận 3 không may rơi vào tay giặc và bị chúng xử tử ngay tại Hòa Xuân. Sáng hôm sau, đồng chí Nguyễn Văn Dự – chiến sĩ biệt động thành cũng anh dũng hi sinh. Họ ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, khi hòa bình, độc lập đã cận kề.
Sau ngày giải phóng, ông Kiều Đa cùng các đồng đội được cấp trên giao nhiệm vụ tham gia dò gỡ mìn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Với tinh thần làm việc tích cực, khẩn trương, sau gần một năm, họ đã thu gom, tiêu hủy được hơn 5 vạn quả mìn, góp phần trả lại bình yên cho đất, hạn chế tối đa đau thương, mất mát do bom đạn gây ra giữa thời bình. Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, năm 2013, ông Phạm Kiều Đa vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.


