Anh Hùng Phan Đăng Cát
Liệt sĩ Phan Đăng Cát sinh ngày 8-4-1941, nhập ngũ ngày 20-2-1961, là con thứ ba trong gia đình có 7 anh chị em ở thôn Trung Mỹ, xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Năm 1961, Phan Đăng Cát nhập ngũ, trở thành chiến sỹ của Đại đội pháo 138, thuộc Trung đoàn Phòng không 280. Đơn vị đóng ở Nghi Xuân (Hà Tĩnh), thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng trời và các công trình trọng điểm của thị xã Vinh.
Năm 1963, Phan Đăng Cát vừa tròn 22 tuổi cưới vợ là người cùng xã. Chưa được một tuần sau đám cưới Phan Đăng Cát phải trở lại đơn vị. Lúc bây giờ có nhiều dấu hiệu dự báo không quân Mỹ sẽ đánh phá miền Bắc.
Đơn vị Phan Đăng Cát có nhiệm vụ bảo vệ Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, phải thường xuyên trực chiến nên từ đó Phan Đăng Cát không có điều kiện về thăm mẹ, thăm vợ. Đến ngày 5-8-1964 Phan Đăng Cát được đơn vị cho về nghỉ phép.
Trưa hôm đó, sau khi ăn xong bữa cơm cùng anh em đơn vị, nhận giấy nghỉ phép và tiêu chuẩn quà phép, gói ghém ba lô, đang chuẩn bị rời đơn vị về quê thì tiếng còi báo động vang lên.
Một tốp máy bay địch tấn công vào thành phố Vinh với các mục tiêu: Kho xăng Hưng Hòa, cảng Bến Thủy và các trận địa pháo phòng không. Phan Đăng Cát bỏ ba lô, lao ra trận địa, chiến đấu cùng anh em đại đội đánh trả quyết liệt lũ cướp trời.
Sau hơn 30 phút chiến đấu, hai chiến A.4D phải đền tội. Trận đánh hôm đó bắn rơi hai chiếc máy bay của quân và dân thành phố Vinh làm nức lòng anh em đại đội.
Trước khả năng máy bay địch sẽ mở đợt oanh kích mới, Phan Đăng Cát đã xin phép ở lại không đi phép nữa, chia quà phép cho anh em liên hoan rồi ra trực tiếp chỉ huy khẩu đội chiến đấu cùng đại đội.
Đúng như dự đoán, 16 giờ 30 , máy bay địch đánh phá khu vực Vinh - Bến Thủy lần thứ hai. Đợt này, địch sử dụng 8 chiếc A.4D đánh "trả đũa" các trận địa pháo cao xạ của ta. Qua trận đánh đầu tiên, chúng phát hiện ra trận địa pháo trung cao của Đại đội 138 nằm ngay phía trước đội hình chiến đấu ở phía bờ Nam sông Lam, khả năng bắn máy bay thấp hạn chế, không có súng máy phòng không bảo vệ, các lực lượng phòng không khác ở bờ Bắc lại bố trí xa, khả năng chi viện hạn chế nên lần này chúng tập trung áp chế trận địa.
Thủ đoạn của chúng là bay thấp, phóng rốc két và bắn đạn 20 ly vào trận địa, sau đó cất cao ngoặt nhanh ra biển để tránh đạn cao xạ. Trận địa Đại đội 138 bị trúng gần 100 quả rốc két, anh em pháo thủ thương vong khá nhiều. Tuy vậy, các anh vẫn kiên trì bám trận địa, bình tĩnh đánh trả.
Riêng Phan Đăng Cát, với vai trò là khẩu đội trưởng, với lá cờ chỉ huy trên tay, mắt dõi theo từng chiếc máy bay địch để hạ quyết tâm chính xác bắn đúng thời cơ. Hai lần bị thương do mảnh rốc két, lần thứ nhất một mảnh găm vào cánh tay, lần thứ hai găm vào đùi anh tự băng bó vết thương.
Mặc dù đứng không vững nhưng Phan Đăng Cát vẫn tựa lưng vào công sự nén đau động viên chỉ huy đồng đội bình tĩnh tiếp tục chiến đấu. Lần bị thương thứ ba, quả róc két nổ cạnh công sự, một mảnh găm vào bụng anh vẫn dõng dạc hô lớn: "Tiếp tục chiến đấu để bảo vệ quê hương Bác, quyết đánh đến cùng".
Do vỡ vết thương quá nặng, máu ra nhiều nên Phan Đăng Cát đã anh dũng hy sinh ngay trên trận địa của quê hương Bác Hồ khi trên tay còn nắm chắc lá cờ chỉ huy.
Liệt sĩ - Khẩu đội trưởng Phan Đăng Cát đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất vào tháng 12/1964.
Sự hy sinh kiên cường của ông là biểu tượng tiêu biểu cho tinh thần dũng cảm trong "trận đầu đánh thắng" của bộ đội Phòng không - Không quân Việt Nam.



