Anh hùng pháo binh
Đồng chí Bùi Đình Cư sinh năm 1927, quê ở xã Việt Tiến, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Từ ngày nhập ngũ (năm 1949) đến năm 1954 đồng chí Bùi Đình Cư liên tục chiến đấu ở Binh chủng Pháo binh, đã trực tiếp tham gia 9 chiến dịch lớn ở Bắc Bộ, chiến dịch nào đồng chí Bùi Đình Cư cũng dũng cảm mưu trí trong chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc.
Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám (năm 1950), đơn vị Bùi Đình Cư phối hợp với đơn vị bạn đánh bốt Vên. Đồng chí Bùi Đình Cư trực tiếp bắn 4 quả pháo sát thương 1 trung đội địch, tạo điều kiện cho xung kích diệt đồn. Trong chiến dịch Quang Trung (năm 1951), trận đánh đồn Yên Mô Thượng (Ninh Bình) vào giữa đêm mưa, trời tối đen như mực, không nhìn rõ mục tiêu, Bùi Đình Cư xung phong bò vào vị trí địch, bấm đèn pin soi vào từng lỗ châu mai cho pháo bắn. Địch bắn ra dữ dội về phía mình nhưng Bùi Đình Cư vẫn bình tĩnh, khôn khéo làm tròn nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị tiêu diệt gọn đồn.Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám (năm 1952), khi đơn vị chuẩn bị tiến công Tu Vũ thì bị lộ, pháo phải di chuyển trận địa. Để bảo đảm an toàn cho pháo và kịp thời bắn chi viện cho bộ binh, đồng chí Bùi Đình Cư đã không do dự vác cả nòng súng cối nặng 101 kg chuyển tới vị trí mới cách 200m dưới hỏa lực của địch. Hành động dũng cảm của đồng chí đã cổ vũ toàn đơn vị nhanh chóng chấp hành nghiêm mệnh lệnh.
Anh hùng Bùi Đình Cư. Ảnh tư liệu Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ, địch đã có hơn 100 ngày để hoàn chỉnh công việc củng cố Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sẵn sàng chờ đón một cuộc tiến công của quân ta. Lúc này, Na-va đã chuyển quân xuống thung lũng Điện Biên Phủ 12 tiểu đoàn và 7 đại đội gồm hơn 12.000 tên lê dương, lính dù thiện chiến. Chúng đóng thành 3 phân khu với 49 cứ điểm san sát trong lòng chảo Mường Thanh. Sân bay Mường Thanh được khôi phục nhanh chóng. Ở Hồng Cúm, chúng đang cấp tốc mở một sân bay dự bị. Ngoài một phi đội chiến đấu gồm 14 máy bay các loại, trên sân bay còn có hàng chục máy bay một thân, hai thân. Máy bay khu trục và "pháo đài bay" B.26 từ Hà Nội và Viêng Chăn có thể bay đến bất cứ lúc nào theo yêu cầu của quân địch ở đây. Lực lượng xe tăng của địch đến vài chục chiếc, nhưng về pháo binh chúng có tất cả 48 khẩu, gồm 2 tiểu đoàn 105mm, 1 đại đội 155mm và 22 đại đội cối 120mm.So sánh lực lượng tại chỗ, ta có 5 đại đoàn (thiếu) với số quân xấp xỉ gấp ba lần địch. Về mặt tinh thần, ta hơn hẳn chúng, mặc dù hiện nay chúng còn đang hung hăng ôm ấp cuồng vọng sẽ đè bẹp quân ta trong một trận quyết định.Địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân và cơ giới. Pháo hạng nặng của chúng có nhiều hơn ta, bố trí tập trung, phơi cả ở cuối sân bay. Ngược lại, pháo binh ta bố trí phân tán trên các đỉnh núi cao kín đáo. Dù kho đạn pháo của ta còn mỏng, ít hơn địch nhiều lần, nhưng ta hơn địch ở chỗ biết cách sử dụng tập trung, thích hợp vào những trận then chốt, những đợt tấn công quyết định.Từ tháng 12 năm 1953, Na-va bàn với Cô-nhi chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ cần lựa chọn một viên chỉ huy pháo binh có tài cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vốn xuất thân từ pháo binh, Cô-nhi rất tinh tường, tiến cử ngay Sác-lơ Pi-rốt - một trung tá pháo binh. Pi-rốt nguyên là chỉ huy Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 69 ở châu Phi. Ông ta đã từng "xông pha" trong Đại chiến thế giới lần thứ hai trên chiến trường nước Ý, bị mất một cánh tay, cụt đến tận bả vai.
Một trận địa pháo binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu Ngày 7-12-1953, Pi-rốt hăm hở đáp máy bay lên Điện Biên Phủ. Ngày hôm sau, đơn vị pháo đầu tiên đã theo chân hắn đổ quân xuống sân bay Mường Thanh. Đó là tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Pháo thuộc địa số 10. Vài hôm sau, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Pháo thuộc địa số 4 trang bị pháo 155mm bắn xa 16km được đổ tiếp xuống Điện Biên Phủ. Đây là đơn vị pháo binh thuộc loại sừng sỏ của địch. Tiếp theo là 2 đại đội súng cối 120mm với đủ các loại đạn chuyên dùng để chiến đấu ở rừng núi, sẵn sàng bắn sập mọi chiến hào của đối phương. Pháo binh địch được bố trí tập trung ở Mường Thanh và Hồng Cúm có thể yểm trợ lẫn nhau và yểm trợ theo các cứ điểm xung quanh. Đầu tháng 2-1954, Pi-rốt có trong tay một kế hoạch hỏa lực mạnh mẽ với số đạn không hạn chế.Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lần lượt nhổ 3 trung tâm đề kháng của địch ở phía Bắc và Đông Bắc tập đoàn cứ điểm, án ngữ hai con đường từ Sơn La và từ Lai Châu tiến vào Điện Biên Phủ là: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo.Đại đoàn 351 pháo binh được giao nhiệm vụ tập trung toàn bộ hỏa lực pháo binh mặt đất trực tiếp yểm hộ cho bộ binh diệt các cứ điểm, kiềm chế pháo binh địch, tập kích vào cơ quan chỉ huy, kho tàng và sân bay địch. Him Lam là một trung tâm đề kháng đột xuất ở phía Đông Bắc tập đoàn cứ điểm nằm trên đường 41 gồm 3 quả đồi cách nhau từ 200 đến 300 mét rất kiên cố. Hỏa lực của địch rất mạnh và dày đặc gồm các loại súng máy, ba-đô-ca, phóng lựu, súng cối, súng cối lửa... Hệ thống chiến hào chi chít gồm nhiều tầng nối liền với các lô cốt ụ súng hình thành những điểm tựa vòng tròn. Ngày 13-3-1954, không hiểu sao quân địch tỏ ra hốt hoảng hơn mọi ngày. Bầu trời Điện Biên Phủ ầm ầm tiếng máy bay địch bắn phá, trút bom xuống các cửa rừng, các nơi nghi có quân ta. 8 giờ, hai máy bay Đa-cô-ta vừa hạ cánh liền bị trúng đạn sơn pháo của 2 Đại đội 756 và 757 bốc cháy.Đến 11 giờ, Đại đội cối 120mm của Bùi Đình Cư tiến hành bắn thử. Đạn pháo rơi trúng sân bay, thêm một máy bay nữa nát vụn.
Anh hùng Bùi Đình Cư. Ảnh tư liệu Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ, địch đã có hơn 100 ngày để hoàn chỉnh công việc củng cố Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sẵn sàng chờ đón một cuộc tiến công của quân ta. Lúc này, Na-va đã chuyển quân xuống thung lũng Điện Biên Phủ 12 tiểu đoàn và 7 đại đội gồm hơn 12.000 tên lê dương, lính dù thiện chiến. Chúng đóng thành 3 phân khu với 49 cứ điểm san sát trong lòng chảo Mường Thanh. Sân bay Mường Thanh được khôi phục nhanh chóng. Ở Hồng Cúm, chúng đang cấp tốc mở một sân bay dự bị. Ngoài một phi đội chiến đấu gồm 14 máy bay các loại, trên sân bay còn có hàng chục máy bay một thân, hai thân. Máy bay khu trục và "pháo đài bay" B.26 từ Hà Nội và Viêng Chăn có thể bay đến bất cứ lúc nào theo yêu cầu của quân địch ở đây. Lực lượng xe tăng của địch đến vài chục chiếc, nhưng về pháo binh chúng có tất cả 48 khẩu, gồm 2 tiểu đoàn 105mm, 1 đại đội 155mm và 22 đại đội cối 120mm.So sánh lực lượng tại chỗ, ta có 5 đại đoàn (thiếu) với số quân xấp xỉ gấp ba lần địch. Về mặt tinh thần, ta hơn hẳn chúng, mặc dù hiện nay chúng còn đang hung hăng ôm ấp cuồng vọng sẽ đè bẹp quân ta trong một trận quyết định.Địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân và cơ giới. Pháo hạng nặng của chúng có nhiều hơn ta, bố trí tập trung, phơi cả ở cuối sân bay. Ngược lại, pháo binh ta bố trí phân tán trên các đỉnh núi cao kín đáo. Dù kho đạn pháo của ta còn mỏng, ít hơn địch nhiều lần, nhưng ta hơn địch ở chỗ biết cách sử dụng tập trung, thích hợp vào những trận then chốt, những đợt tấn công quyết định.Từ tháng 12 năm 1953, Na-va bàn với Cô-nhi chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ cần lựa chọn một viên chỉ huy pháo binh có tài cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vốn xuất thân từ pháo binh, Cô-nhi rất tinh tường, tiến cử ngay Sác-lơ Pi-rốt - một trung tá pháo binh. Pi-rốt nguyên là chỉ huy Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 69 ở châu Phi. Ông ta đã từng "xông pha" trong Đại chiến thế giới lần thứ hai trên chiến trường nước Ý, bị mất một cánh tay, cụt đến tận bả vai.
Một trận địa pháo binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu Ngày 7-12-1953, Pi-rốt hăm hở đáp máy bay lên Điện Biên Phủ. Ngày hôm sau, đơn vị pháo đầu tiên đã theo chân hắn đổ quân xuống sân bay Mường Thanh. Đó là tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Pháo thuộc địa số 10. Vài hôm sau, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Pháo thuộc địa số 4 trang bị pháo 155mm bắn xa 16km được đổ tiếp xuống Điện Biên Phủ. Đây là đơn vị pháo binh thuộc loại sừng sỏ của địch. Tiếp theo là 2 đại đội súng cối 120mm với đủ các loại đạn chuyên dùng để chiến đấu ở rừng núi, sẵn sàng bắn sập mọi chiến hào của đối phương. Pháo binh địch được bố trí tập trung ở Mường Thanh và Hồng Cúm có thể yểm trợ lẫn nhau và yểm trợ theo các cứ điểm xung quanh. Đầu tháng 2-1954, Pi-rốt có trong tay một kế hoạch hỏa lực mạnh mẽ với số đạn không hạn chế.Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lần lượt nhổ 3 trung tâm đề kháng của địch ở phía Bắc và Đông Bắc tập đoàn cứ điểm, án ngữ hai con đường từ Sơn La và từ Lai Châu tiến vào Điện Biên Phủ là: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo.Đại đoàn 351 pháo binh được giao nhiệm vụ tập trung toàn bộ hỏa lực pháo binh mặt đất trực tiếp yểm hộ cho bộ binh diệt các cứ điểm, kiềm chế pháo binh địch, tập kích vào cơ quan chỉ huy, kho tàng và sân bay địch. Him Lam là một trung tâm đề kháng đột xuất ở phía Đông Bắc tập đoàn cứ điểm nằm trên đường 41 gồm 3 quả đồi cách nhau từ 200 đến 300 mét rất kiên cố. Hỏa lực của địch rất mạnh và dày đặc gồm các loại súng máy, ba-đô-ca, phóng lựu, súng cối, súng cối lửa... Hệ thống chiến hào chi chít gồm nhiều tầng nối liền với các lô cốt ụ súng hình thành những điểm tựa vòng tròn. Ngày 13-3-1954, không hiểu sao quân địch tỏ ra hốt hoảng hơn mọi ngày. Bầu trời Điện Biên Phủ ầm ầm tiếng máy bay địch bắn phá, trút bom xuống các cửa rừng, các nơi nghi có quân ta. 8 giờ, hai máy bay Đa-cô-ta vừa hạ cánh liền bị trúng đạn sơn pháo của 2 Đại đội 756 và 757 bốc cháy.Đến 11 giờ, Đại đội cối 120mm của Bùi Đình Cư tiến hành bắn thử. Đạn pháo rơi trúng sân bay, thêm một máy bay nữa nát vụn.


