ANH HÙNG SƠN TON
Sơn Ton sinh năm 1933, dân tộc Khơ Me, quê ở xã Lưu Nguyệt Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng đặc công thuộc trung đoàn 3, bộ đội miền Tây Nam Bộ.
Cách mạng tháng Tám thành công vào lúc Sơn Ton 12 tuổi, đang đi ở đợ. Với nhiệt tình hăng hái của tuổi trẻ, đồng chí tuy vẫn phải làm việc quần quật suốt ngày hầu hạ nhà chủ, nhưng vẫn tích cực tham gia công tác cách mạng, canh gác, phá đường ngăn cản địch. Năm 1949, đồng chí tham gia du kích xã, rồi lên du kích tập trung huyện, sau chuyển thành bộ đội địa phương (tháng 1 năm 1953).
Gần 7 năm, Sơn Ton vừa chiến đấu, vừa tham gia hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức dân quân du kích chiến đấu trong vùng người dân tộc Khơ Me. Tuy trình độ có hạn, địch lại thường xuyên càn quét đánh phá, tuyên truyền gây hiềm khích chia rẽ dân tộc, cơ sở Đang chưa có nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, Sơn Ton đã kiên trì vận động quần chúng, vạch rõ âm mưu giặc, giác ngộ, tổ chức thanh niên người Khơ Me kiên quyết đứng lên cầm súng chống Pháp, bảo vệ làng xóm. Trong hoàn cảnh khó khăn ban đầu, Sơn Ton dũng cảm tự tay gài mìn và nổ súng diệt địch trước để đồng bào tin tưởng noi theo. Dần dần Sơn Ton đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng tốt, nhiều tổ đội du kích, duy trì và phát triển phong trào chiến tranh du kích trong vùng đồng bào dân tộc Khơ Me ngày một vững chắc.
Một lần xã đang họp hội nghị, có cán bộ tỉnh về dự, địch bao vây tiến công vào, một mình đồng chí dũng cảm chiến đấu bắn chặn, cầm cự với giặc để hội nghị rút an toàn.
Hai năm 1952 - 1953 là thời kỳ khó khăn nhất của huyện Long Phú. Địch thường xuyên dùng 2, 3 tiếu đoàn càn quét, có máy bay, pháo binh bắn phá yểm trợ, đóng đồn bốt khắp trong huyện. Trước tình hình giặc lùng sục khủng bố ác liệt, đội du kích hầu như không còn, cả đội chỉ còn đồng chí và một cán bộ xã đội là vẫn kiên cường cầm súng chống giặc. Suốt 2 năm liền, hai anh em vừa bảo vệ vũ khí, vừa tuyên truyền gây cơ sở, vừa chiến đấu chống giặc, tới trận Mương Ông Tám. Cuối năm 1952, giặc đổ bộ vào xã, đồng chí tổ chức gài lựu đạn, dụ địch vào diệt được nhiều tên, khiến nhân dân phấn khởi tin tưởng, phong trào du kích lại lên. Từ đó Sơn Ton tổ chức được 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích thường xuyên tập luyện sẵn sàng đánh giặc.
Năm 1953, Sơn Ton được điều lên đội du kích tập trung của huyện. Năm 1954, ta mở chiến dịch tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Đồng chí dẫn đầu tổ vũ trang tuyên truyền (hầu hết anh em là người Việt) vào tuyên truyền xây dựng cơ sở. Đến sóc (làng) nào đồng chí cũng xung phong vào trước để tuyên truyền giác ngộ đồng bào. Nhiều lần dựa vào nhân mối, Sơn Ton đã táo bạo đến thẳng bốt địch tuyên truyền vận động binh lính quay súng về với nhân dân. Đối với bọn ngoan cố thì kết hợp với dân quân tiến công tiêu diệt hoặc uy hiếp. Kết quả trong 7 tháng hoạt động, tổ vũ trang tuyên truyền đã diệt 67 tên địch bắt sống 100 tên, thu 43 súng, vận động được nhiều binh lính về với nhân dân và động viên được 50 thanh niên tòng quân.
Do tinh thần tích cực, dũng cảm, tác phong gương mẫu khiêm tốn, giản dị, Sơn Ton rất có uy tín với đồng đội và nhân dân địa phương. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 4 lần được huyện, tỉnh và Miền khen.
Ngày 31 tháng 8 nảm 1955, Sơn Ton được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


