ANH HÙNG TẠ LƯU
ANH HÙNG TẠ LƯU
ANH HÙNG TẠ LƯU
Tạ Lưu, sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 3 năm 1947. Khi được tuyên dương
Anh hùng, đồng chí là thượng úy, bác sĩ quân y, đội phó đội điều trị 14, binh trạm 12, Đoàn 500 Tổng cục Hậu cần, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trướng thành từ một y tá trong cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1965, sau khi tốt nghiệp bác sĩ quân y, Tạ Lưu được điều vào phục vụ ở đội điều trị 14. Đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần phục vụ thương bệnh binh, bất kể ngày đêm, hễ lúc nào có thương binh về là cứu chữa, có yêu cầu cấp cứu thương binh dưới đơn vị là xung phong đi ngay. Có lần, giữa ban ngày, máy bay địch đuổi theo xe bắn phá, Tạ Lưu vẫn động viên lái xe bình tĩnh đến nhanh chỗ có thương binh để cấp cứu kịp thời. Đồng chí thường xuyên xuống các trận địa pháo cao xạ, những trọng điểm địch hay bắn phá để cấp cứu thương binh.
Tính trung bình trong nhiều tháng, không ngày nào không có những ca cần mổ, có đợt 5, 6 ngày liền mỗi ngày đứng mổ hơn 10 tiếng đồng hồ, nhiều đêm không ngủ, Tạ Lưu vẫn tận tình cứu thương binh, quyết giành lại cuộc sống cho đồng đội. Tạ Lưu đã giải quyết nhiều ca mổ phức tạp, đạt kết quả tốt, trong đó có 20 trường hợp vết thương do bom đạn giặc Mỹ gây ra rất hiểm nghèo: bị thủng ruột ở nhiều chỗ đã quá 48 tiếng đồng hồ, phúc mạc đã bị viêm, gãy cột sống, vỡ gan, vỡ lá lách; bị thương vào sọ náo, óc lòi ra ngoài; phổi giập nát; đứt mạch máu phổi, v.v. đã được đồng chí cùng tập thể kíp mổ cứu sống.
Quá trình công tác, vừa rút kinh nghiệm thực tế, vừa nghiên cứu học tập để nâng cao thêm chuyên môn, Tạ Lưu có trình độ kỹ thuật mổ bụng, mổ phổi tốt, không để xảy ra tử vong. Với lòng căm thù giặc sâu sâc, lòng thương yêu đồng đội, luôn luôn suy nghĩ vì tính mạng của thương binh, trong điều kiện phương tiện trang bị thiếu thốn, đồng chí đã nghiên cứu vận dụng kỹ thuật gây mê nội khí quản, truyền tĩnh mạch tăng áp, truyền động mạch ngược chiều, truyền máu trực tiếp khi không có dung dịch chống đông, v.v. đạt nhiều kết quả tốt.
Chú trọng khai thác những kinh nghiệm chữa bệnh của nhân dân trong vùng đóng quân, Tạ Lưu đã học tập được kinh nghiệm gia truyền chữa rắn cắn, phổ biến chung cho toàn binh trạm và nhân dân ở khu vực đóng quân. Nhờ đó, nhiều người bị rắn độc cắn đều chữa khỏi. Đội điều trị của đồng chí còn sản xuất được thuốc nam bằng các dược liệu địa phương.
Đối với anh chị em trong đội, Tạ Lưu luôn luôn quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, bản thân gương mẫu cùng anh em làm mọi công việc lao động nặng nhọc như khiêng cáng thương binh, đi lấy gạo, lấy củi, tăng gia sản xuất, có khi làm các công việc phục vụ của hộ lý, nên đã động viên thúc đẩy được mọi người cùng tự nguyện làm theo, hết lòng vì thương binh mà phục vụ.
Tạ Lưu đã góp nhiều thành tích xây dựng đội điều trị 14 trở thành đội tiên tiến của Đoàn 500. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 2 năm liền là Chiến sĩ Quyết thắng.
Ngày 18 tháng 6 năm 1969, Tạ Lưu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


