Anh hùng Tô Vĩnh Diện (1)
Tô Vĩnh Diện - Người anh hùng lấy thân mình chèn bánh pháo
Tô Vĩnh Diện - Người anh hùng lấy thân mình chèn bánh pháo
Trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là một trang viết hào hùng, lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu. Trong đó, hình ảnh Tô Vĩnh Diện, người liệt sĩ đã hy sinh thân mình để cứu khẩu pháo cao xạ 37mm không bị lăn xuống vực thẳm, đã trở thành một biểu tượng vĩnh cửu của lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí kiên cường của thế hệ chiến sĩ anh dũng. Sự sống và cái chết của anh không chỉ là một câu chuyện về sự hy sinh cá nhân, mà còn là minh chứng cho tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không mong muốn của toàn bộ quân và dân ta trong cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc.
Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 ở thôn Dược Khê, xã Nông Trường, huyện Nông Cống (nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) trong một gia đình nghèo khó. Khi mới 8 tuổi, anh đã phải đi ở cho địa chủ để kiếm cơm ăn, suốt 12 năm trải qua những cảnh áp bức, bất công đầy đau thương. Cho đến năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, anh mới thoát khỏi cảnh đi ở và bắt đầu tham gia phong trào du kích địa phương. Năm 1946, chính thức tham gia lực lượng dân quân, và đến năm 1949, anh xung phong nhập ngũ vào Quân đội Nhân dân Việt Nam, bước vào con đường cách mạng thực sự.
Trong quân ngũ, Tô Vĩnh Diện luôn là gương mẫu đi đầu trong mọi công việc. Anh học tập chăm chỉ, rèn luyện bản thân và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm 1953, khi quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ đầu tiên để chuẩn bị cho trận đánh lớn, anh được triệu tập tham gia lực lượng pháo phòng không. Anh cùng đơn vị sang Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) để huấn luyện, trong thời gian đó được chỉ định là Trung đội phó thuộc Đại đội 829, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367 và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.
Tháng 12 năm 1953, Tô Vĩnh Diện cùng đơn vị về nước và ngay lập tức hành quân lên Điện Biên Phủ để tham gia Chiến dịch. Anh được điều về Đại đội 827, làm Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37mm số hiệu 510681 - một khẩu pháo được Liên Xô sản xuất, được xem là vũ khí quan trọng trong chiến dịch. Từ đó, anh bắt đầu hành trình kéo pháo qua những chặng đường gian khổ, vượt qua hàng trăm cây số rừng núi cheo leo, dốc đèo gập ghềnh để đưa khẩu pháo đến vị trí tập kết tại trận địa Điện Biên Phủ.
Chặng đường kéo pháo và tình huống hiểm nghèo tại dốc Chuối
Từ ngày 16 đến ngày 24 tháng 1 năm 1954, với sự trợ giúp của bộ binh và công binh, các đơn vị pháo trong đó có đơn vị của Tô Vĩnh Diện bắt đầu kéo pháo bằng sức người lên vị trí tập kết. Chặng đường kéo pháo dài hơn 1.000km, qua những đoạn đường khó khăn gian khổ, với những con dốc nghiêng 70 độ, đường hẹp cong rất nguy hiểm. Trong suốt quá trình này, Tô Vĩnh Diện luôn xung phong lái pháo, gương mẫu, động viên đồng đội đưa pháo đến nơi tập kết an toàn. Anh luôn tự mình kiểm tra tỉ mỉ dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng con dốc và phổ biến cho anh em để tránh những bất ngờ xảy ra. Để đảm bảo cho Chiến dịch Điện Biên Phủ chắc thắng, ngày 26 tháng 1 năm 1954, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã quyết định đổi phương án tác chiến từ "Đánh nhanh, thắng nhanh" sang "Đánh chắc, tiến chắc". Các đơn vị pháo binh nhận được mệnh lệnh phối hợp với bộ binh kéo pháo ra vị trí tập kết tại Bắng Hôm để ăn Tết Giáp Ngọ và chờ lệnh mới. Kéo pháo ra lại càng gay go, trắc trở hơn khi kéo pháo vào, các chiến sĩ phải đối mặt với cả đường trơn trượt do mưa ẩm ướt, đồng thời còn phải chịu sự tấn công pháo kích không ngừng từ quân Pháp từ Mường Thanh lên.
Đêm ngày 1 tháng 2 năm 1954, trời mưa to, đường trơn lây, Tô Vĩnh Diện cùng pháo thủ Nguyễn Văn Chi phụ trách điều khiển càng pháo để chỉnh hướng cho một đơn vị bộ binh kéo dây tời giữ pháo qua con dốc cao và hẹp ở gần bản Chuối. Ngoài ra còn có 2 chiến sĩ khác phụ trách chèn bánh pháo để giữ cho khẩu pháo không bị trượt xuống vực. Nhưng bất ngờ, một trong bốn sợi dây kéo pháo bị đạn địch bắn đứt, khẩu pháo bắt đầu lao nhanh xuống dốc. Pháo thủ Nguyễn Văn Chi bị hất văng ra khỏi vị trí, khẩu pháo càng trượt càng nhanh, dần về phía vực sâu thẳm bên dưới.
Trong hoàn cảnh hiểm nghèo vô cùng, Tô Vĩnh Diện không chần chừ, anh lập tức bỏ càng pháo phía trong, chuyển sang càng pháo phía ngoài, cố gắng đẩy hướng càng pháo đâm vào vách núi để ngăn chặn khẩu pháo lao xuống vực. Nhưng sức nặng hơn 2 tấn của khẩu pháo đã quá lớn, anh không đủ sức cản lại. Anh không ngần ngại, anh hô lên cho đồng đội: "Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo" và buông tay lái, chạy lên phía trước, lấy thân mình lao vào chèn bánh pháo.
Khẩu pháo bị vướng vào thân anh, nghiêng dựa vào sườn núi và dừng hẳn. Đơn vị đồng đội kịp ghìm giữ được khẩu pháo dừng lại, họ chạy tới chèn cứng bánh pháo, chặt gốc cây để cố định, sau đó đưa Tô Vĩnh Diện ra ngoài. Khi được đồng đội ứng cứu, anh chỉ kịp hỏi: "Pháo có việc gì không?" rồi kiệt sức, hy sinh tại địa điểm đó lúc 2 giờ 30 phút cùng ngày, ở tuổi 30.
Sự hy sinh của Tô Vĩnh Diện không chỉ là một hành động cá nhân, mà nó có ý nghĩa lớn lao cho toàn bộ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hành động anh dũng của anh đã cổ vũ mạnh mẽ toàn bộ đơn vị, các chiến sĩ cùng đồng đội quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ, đưa pháo đến an toàn để tham gia chiến đấu. Toàn mặt trận cảm phục, noi gương anh để hoàn thành công việc kéo pháo ra an toàn, chuẩn bị cho trận đánh quyết chiến tại Điện Biên Phủ.
Ngay tại mặt trận, Tô Vĩnh Diện được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Đảng và Nhà nước đã truy tặng cho anh Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân theo Quyết định số 118/LCT. Hiện nay, hài cốt của anh được Đảng và Nhà nước quy tập và an táng tại nghĩa trang Đồi A1, thành phố Điện Biên Phủ, nơi diễn ra trận chiến ác liệt của quân và dân ta phá hủy hoàn toàn pháo đài mà thực dân Pháp từng tuyên bố là "bất khả sâm phạm". Khẩu pháo cao xạ 37mm số hiệu 510681 mà Tô Vĩnh Diện đã hy sinh để bảo vệ hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không - Không quân, được Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định công nhận là Bảo vật quốc gia đợt 1 ngày 1 tháng 10 năm 2012, cùng 29 hiện vật tiêu biểu khác trong hệ thống bảo tàng, di tích quốc gia Việt Nam. Tên của Tô Vĩnh Diện cũng được đặt cho nhiều đường và trường học ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, để thế hệ sau luôn nhớ đến sự hy sinh anh dũng của người liệt sĩ.
Tô Vĩnh Diện là một người anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, sự sống và cái chết của anh là một trang viết hào hùng trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hành động lấy thân mình chèn bánh pháo của anh không chỉ cứu được khẩu pháo quan trọng, mà còn tạo ra nguồn sức mạnh tinh thần cổ vũ cho toàn bộ quân và dân ta trong chiến đấu giành thắng lợi lịch sử tại Điện Biên Phủ. Sự hy sinh của Tô Vĩnh Diện sẽ luôn được lưu trữ trong lòng người Việt Nam, là tấm gương sáng về tình yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí kiên cường. Thế hệ hiện đại và thế hệ trẻ Việt Nam cần luôn nhớ đến những đóng góp của người anh hùng, học hỏi tinh thần cống hiến, sẵn sàng hy sinh cho lợi ích của Tổ quốc và cộng đồng, để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, hùng vĩ, xứng đáng với những gì mà thế hệ cha ông đã đánh đổi bằng xương máu.



