ANH HÙNG TRẦN NGỌC THÁI
ANH HÙNG TRẦN NGỌC THÁI
ANH HÙNG TRẦN NGỌC THÁI
Trần Ngọc Thái, sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở xã Bình An, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 10 năm 1955. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thiếu úy, tổ trưởng tổ ụ đà xưởng X.46 hải quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình rất nghèo khổ, cha chết sớm, Trần Ngọc Thái phải đi ở từ năm lên 9 tuổi. Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí hăng hái hoạt động, công tác ở địa phương: tham gia tự vệ xã, làm công tác thanh niên, vận động quần chúng, phụ trách dân công đi phục vụ các chiến dịch... khó khăn, gian khổ không quản ngại, bao giờ cũng xung phong, gương mẫu đi đầu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Tập kết ra Bắc, tháng 5 năm 1955, Trần Ngọc Thái được điều về công tác ở xưởng X.46 và được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng tổ ụ đà. Lúc đầu tuy gặp nhiều khó khăn, phương tiện thiếu thốn, công việc nặng nhọc, vất vả, nhưng Trần Ngọc Thái luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực, tận tụy, gương mẫu tìm biện pháp khắc phục, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Từ một nông dân nghèo mới thoát nạn mù chữ, Trần Ngọc Thái kiên trì học tập, không ngừng nâng cao trình độ để trở thành một công dân lành nghề, một tổ trưởng tháo vát, một cán bộ kỹ thuật giỏi, luôn luôn sâu sát, gần gũi, giúp đỡ bồi dưỡng cho các đồng chí trẻ.
Trần Ngọc Thái có tinh thần trách nhiệm cao, luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc lên trên hết. Mỗi khi gặp khó khăn, không bao giờ đồng chí chịu bó tay, mà chịu khó tìm tòi suy nghĩ cách khắc phục, hoàn thành bằng được nhiệm vụ. Trần Ngọc Thái có 12 sáng kiến được Hội đồng kỹ thuật công nhận, được cấp trên khen thưởng và nhiều nơi áp dụng công nhận có giá trị tốt.
Với sáng kiến chữa lại các bệ căn của đồng chí nên ụ đà trước chỉ cho được một tàu vào, nay đã nâng năng suất lên rõ rệt, đưa được 3 tàu vào một lúc. Trần Ngọc Thái còn nghiên cứu làm chiếc cần cẩu đơn giản vét bùn trong ụ, giảm được từ 20 công xuống còn 6-7 công.
Năm 1966, một phân đội đã chuẩn bị xong, sắp lên đường đi làm nhiệm vụ thì phát hiện còn một lỗ hàn trên thân tàu chưa tốt, cần hàn lại. Công việc phải làm trong 8 ngày và như vậy sẽ lỡ mất kế hoạch. Mọi người rất lo lắng. Cấp trên giao cho đồng chí nghiên cứu đưa tàu lên sửa chữa càng nhanh càng tốt. Sau khi xem xét, Trần Ngọc Thái có sáng kiến cải tạo đường ray, để đưa con tàu trọng tải 20 tấn vào sửa chữa trong một đêm, bảo đảm cho phân đội đi làm nhiệm vụ đúng kế hoạch.
Trần Ngọc Thái còn hoàn thành xuất sắc nhiều công tác đột xuất, nhất là việc cứu các tàu bị đấm hoặc mắc cạn.
Năm 1962, cứu một chiếc tàu bị chìm sâu ở sông Gianh, có lỗ thủng to, đồng chí có sáng kiến dùng tôn mỏng đệm chăn vải xung quanh vít lỗ thủng nên trục đưa được tàu về.
Cuối năm 1964, đi cứu chiếc tàu bị chìm ở cạnh Hòn Nẹ, Trần Ngọc Thái kiên trì động viên anh em lặn, mò, làm việc 7 ngày liền mới trục được tàu lên đưa về.
Đợt đi cứu các tàu bị chìm ở sông Gianh, máy bay địch thường xuyên đánh phá, Trần Ngọc Thái động viên anh em gắng sức và vận động nhân dân giúp đỡ. Đồng chí tổ chức canh gác máy bay, ngụy trang kỹ nơi làm việc, đào hào giao thông phòng tránh, nên suốt 3 tháng làm việc ở đây địch không phát hiện được, bảo đảm cho đơn vị và nhân dân được an toàn.
Trần Ngọc Thái còn chú trọng xây dựng đơn vị tốt, hết lòng thương yêu chăm sóc đồng đội, giúp đỡ nhân dân, luôn luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, khiêm tốn, giản dị, đoàn kết chân thành, được đồng đội và nhân dân tin yêu.
Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 5 năm là Chiến sĩ thi đua, 7 năm là Lao động tiên tiến, 17 lần được cấp bằng khen và giấy khen.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Trần Ngọc Thái được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


