Anh Hùng Trần Ngọc Thành
Chiến tranh đã đi qua nhưng những vết thương những nỗi đau ngày đó đã khắc sâu vào máu, xương của dân tộc Việt Nam và những cựu chiến binh anh hùng. Nỗi đau đó làm sao nói quên là sẽ quên được. Nắng chiều chiếu rơi vào mái tóc bạc phơ của người cựu chiến binh, khiến từng nếp nhăn hiện rõ hơn, dấu tích của tuổi tác và quá khứ của người cựu chiến binh anh dũng ấy.
Chiến tranh đã đi qua nhưng những vết thương những nỗi đau ngày đó đã khắc sâu vào máu, xương của dân tộc Việt Nam và những cựu chiến binh anh hùng. Nỗi đau đó làm sao nói quên là sẽ quên được. Nắng chiều chiếu rơi vào mái tóc bạc phơ của người cựu chiến binh, khiến từng nếp nhăn hiện rõ hơn, dấu tích của tuổi tác và quá khứ của người cựu chiến binh anh dũng ấy.
Khi nhận được thông báo về phong trào của phường đoàn Ngã Bảy về việc viết bài và phỏng vấn một cựu chiến binh tôi đã rất háo hức. Theo sự chỉ dẫn của cô giáo hôm ấy tôi đã suy nghĩ rất nhiều câu hỏi để hỏi nhân vật tôi sắp được gặp gỡ, và sau sự chỉ dẫn chúng tôi tìm đến gặp cụ Trần Ngọc Thành, tôi hỏi thăm về nơi ở của cụ năm sinh rồi cụ dõng dạc trả lời tôi tên Trần Ngọc Thành sinh năm 1933. Trước đây cư ngụ tại ấp Xẻo Môn, xã Phụng Hiệp, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ. Nói đến đây tôi hoàn toàn tròn xoe mắt, ngạc nhiên đến mức không thốt nên lời vì tuổi cụ đã lớn nhưng giọng nói của một người anh hùng cứ vang vang hào hùng đến lạ thường.
Song từ thông tin cụ cho biết đầu tiên cụ làm liên lạc ở Tỉnh Ủy. Qua năm 1959 sang 1960 cụ bắt đầu tham gia vào du kích địa phương, đến năm 1965 ông làm du kích tập trung của Huyện. Cha của cụ là Đảng viên, cụ cho biết bản thân có ba người anh em nhưng đã hy sinh nơi chiến trường. Cụ bị quân địch bắt sống khi đang tham gia chiến đấu và bị bỏ tù suốt 4 năm, họ đánh ông nhưng không hỏi được thông tin gì và cũng không có bằng chứng kết tội cụ, khi nhốt quá lâu họ trả tự do cho ông, sau đó cụ chính thức theo con đường Cách Mạng. Sau một thời gian ông làm trưởng Ban nhân dân, chính quyền của ấp Phương Thạnh, xã Phương Bình hơn 10 năm. Gia đình của cụ đã có truyền thống phục vụ cho Đảng nhà nước từ đời cha của ông và lưu truyền đến nay là đời cháu của cụ. Ngồi đối diện và nghe cụ kể lại những sự kiện khi ấy, những phát súng bắn vào chân của cha cụ tôi thật sự nể phục, tôi nể việc truyền thống tốt đẹp được gia đình cụ lưu truyền suốt bao thế hệ, tôi phục vì sự anh dũng của cha của cụ tôi phục hơn cả là sự mạnh mẽ của cụ. Chỉ mới nghe kể lại nhưng thật sự tôi chẳng thể nào diễn tả được, cũng chẳng thể nào cảm nhận hình ảnh súng bắn thẳng vào chân của người chiến sĩ khiến một chân của cha ông đứt lìa ra. Hình ảnh đó quá ác liệt, quá cay đắng, tàn khóc để cảm nhận đúng hoàn cảnh lúc đó Trước mặt tôi là một người chiến sĩ, một cựu chiến binh với dáng người gầy hao, với một đôi mắt sâu thâm thẩm như chứa đựng cả một vùng trời kí ức đau thương, cũng có cả một kho tàn lịch sử trong đôi mắt và tâm trí của người anh hùng này. Cụ có phong thái của một người lãnh đạo tài ba cách diễn đạt của cụ tuy dõng dạc nhưng lại cho chúng tôi một cảm giác gần gũi hơn là xa cách. Dáng vẻ loay hoay tìm cái áo màu khoác mặc vội vuốt vuốt tóc gọn gàng làm tôi thấy xót xa, thương cho người anh hùng đã thắng trên chiến trường bom đạn nhưng vẫn không thể thắng được sự bào mòn của thời gian. Tôi may mắn khi được gặp gỡ trò chuyện cùng cụ, nhưng tôi đã tự hỏi nếu không có hoạt động phong trào của trường thì đến khi nào tôi mới biết được rằng nơi tôi ở không đâu xa xôi vẫn có rất nhiều vị anh hùng đem lại hòa bình hôm nay cho tôi. Tôi đã không nghĩ bản thân sẽ một lần được ngồi nói chuyện và gặp gỡ một người cựu chiến binh đã chứng kiến đất nước tươi đẹp mà tôi được sinh ra từ khi còn loạn lạc và họ góp phần tạo nên sự hòa bình hôm nay, gần một thế kỷ liệu có bao nhiêu người ở địa phương biết được cụ Trần Ngọc Thành là một người có công đem đến độc lập cho họ. Súng cũng đã nổ, đạn đã ghi. vào da thịt, người đi cũng đã đi mãi mãi chỉ để lại cho người ở lại một vết thương, vết thương ấy nằm trên da thịt mà nó nằm sâu trong xương tủy của người chứng kiến hình ảnh đớn đau ấy. Họ hy sinh cho ta hòa bình, nếu ví những người chiến sĩ, những người cựu chiến binh ấy như một người cha người mẹ đầu đời của ta có lẽ cũng không sai, họ yêu thương ta lặng lẽ như gió, không gọi thành lời, như giọt sương ngậm vào lá , tan biến trong nắng mai, nhưng để lại một khoản mát lành.
Cụ trò chuyện cùng chúng tôi, tôi hỏi cụ rất nhiều thứ nhưng cụ vẫn điềm đạm trả lời các câu hỏi để chúng tôi có tư liệu để viết bài. Cụ còn cẩn trọng nhắc nhở tôi nên ghi âm lại vì cụ nói khá nhanh, phong thái ấy cứ cho tôi tưởng tượng đến bản thân đang làm việc với một người cấp trên đầy nhiệt huyết và có tính cẩn thận trong mọi việc. Tôi thực sự mong muốn những người trẻ như chúng tôi có nhiều cơ hội hơn để gặp gỡ nghe những câu chuyện trong thời kháng chiến để có thể thấu hiểu hơn hòa bình, tự do quý giá thế nào. Họ hy sinh đem đến ta bình yên, ta phải sống, đóng góp giúp con cháu của họ cũng được sống trong đất nước hòa bình như cách họ đem đến cho ta. Câu chuyện của người cựu chiến binh ngày ngày lặng lẽ không phô trương sống nơi quê nhà vắng người biết đến, ông đang ngắm nhìn đất nước hòa bình hôm nay nhưng vẫn không thể quên những nỗi đau ngày trước. Câu chuyện của cụ như một thước phim dài đằng đẵng cả một thế kỉ qua chắc hẳn thước phim này không một người dân Việt Nam nào muốn xem lại vì sự đau thương quá lớn.”Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Lời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trích trong”Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa”, ngày 15-9-1945.Tôi chỉ mong rằng các bạn trẻ biết, hiểu, yêu cái độc lập, tự do, hạnh phúc mà các bạn đã, đang có, vì nó đổi bằng bao nhiêu tính mạng,đổi bằng bao nhiêu máu xương của cha ông ta, yêu Tổ quốc là một việc không thể nói bằng lời, sống hôm nay nghĩ đến tương lai, sống hôm nay, tương lai, không phạm sai lầm của quá khứ. Đời đời tri ân, biết ơn các cựu chiến binh anh hùng của dân tộc ta



