Anh hùng TRẦN VĂN DANH
Đồng chí Trần Văn Danh tên thật là Trần Văn Bá, sinh năm 1923 tại xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Năm 13 tuổi, đồng chí làm giao liên cho cách mạng. Năm 16 tuổi, theo học ở Trường Bá Nghệ Sài Gòn. Khi phátxít Nhật đảo chính Pháp, trường tạm đóng cửa, đồng chí nghỉ học. Tháng 7/1945, đồng chí tham gia tổ chức bí mật Thanh niên Cứu quốc. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí tham gia giành chính quyền ở Hóc Môn. Một thời gian ngắn sau đó, thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ. Đồng
Năm 1948, đồng chí Trần Văn Danh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Do yêu cầu bí mật của tổ chức, đồng chí đổi tên thành Trần Văn Bá (bí danh Ba Trần). Những năm 1949 - 1954, đồng chí là Phó Tham mưu kiêm Trưởng ban Quân báo liên tỉnh Thủ - Biên, Phó Chính ủy kiêm Bí thư Trung đoàn 556, Sư đoàn 330 Đông Nam Bộ. Sau khi Hiệp định Giơnevơ ký kết (ngày 21/7/1954), đồng chí Trần Văn Danh tập kết ra Bắc, học nghiệp vụ tình báo, an ninh để chuẩn bị trở về Nam chiến đấu. Tháng 12/1960, đồng chí là một trong những cán bộ quân sự đầu tiên nhận lệnh vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu. Lúc này, chính quyền Ngô Đình Diệm với chính sách “tố cộng, diệt cộng” đã triệt phá, bắn giết và bỏ tù hàng loạt cán bộ tình báo, lực lượng tình báo của ta bị tổn thất rất nặng. Công việc cấp bách lúc này là củng cố và xây dựng lại lực lượng tình báo chiến lược và mạng lưới cơ sở. Trung ương Cục miền Nam thành lập Ban Quân sự Miền do đồng chí Trần Văn Quang làm Trưởng ban. Đồng chí Trần Văn Danh được bổ nhiệm Trưởng ban Tình báo chiến lược trực thuộc Ban Quân sự Miền, tiến hành xây dựng lại ngành tình báo cách mạng, tuyển chọn cán bộ từ Ban địch tình đã trụ lại sau Hiệp định Giơnevơ. Lợi dụng mâu thuẫn nội bộ giữa chính quyền và quân đội Sài Gòn, đồng chí chỉ đạo giải cứu các cán bộ tình báo đang bị giam cầm, tuyển chọn cán bộ tình báo mới, bố trí hoạt động trở lại, tổ chức “cài cắm” sâu vào các cơ quan đầu não của Mỹ, ngụy. Đồng chí Trần Văn Danh là người có công lớn trong việc tổ chức giải cứu đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban An ninh T4 giai đoạn 1972 - 1975. Tháng 6/1965, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng Cục Tham mưu Miền, phụ trách Phòng Quân báo, là cơ quan tham mưu địch tình cấp chiến lược, các chiến trường trọng điểm bao gồm các quân khu 6, 7, 8, 9, 10 và quân khu Sài Gòn - Gia Định. Đồng chí đã tuyển chọn những cán bộ tình báo giỏi từ Ban địch tình, cài cắm vào Phủ Tổng thống, Bộ Tổng Tham mưu, Đặc ủy Trung ương tình báo ngụy. Các cán bộ tình báo đã thu thập, khai thác được nhiều thông tin tối mật của chính quyền Sài Gòn và CIA Mỹ, kịp thời cung cấp cho Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tư lệnh Miền nhiều tài liệu, thông tin quan trọng của địch như kế hoạch Maccar, kế hoạch Harkin, kế hoạch McNamara, kế hoạch bình định, kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, các âm mưu chuyển hướng chiến lược chiến tranh của địch, kế hoạch quân sự vùng 4, kế hoạch quân sự toàn miền Nam, dự thảo kế hoạch năm 1975, kế hoạch dài hạn 1974 - 1975, dự kiến kế hoạch 1977 - 1978, báo cáo viện trợ của Mỹ, kế hoạch xây dựng không quân, hải quân ngụy... Nguồn tin Ban Tình báo chiến lược thu thập, khai thác được đã phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo chiến trường của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương Cục và Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” năm 1965, quân đội Mỹ và chư hầu đưa quân vào miền Nam, đẩy cường độ xâm lược lên cao chưa từng có. Trận càn Junction City của Mỹ vào căn cứ địa phía bắc Tây Ninh là cuộc hành quân trên bộ lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, với 45.000 quân, 775 xe tăng thiết giáp, 160 máy bay các loại, 256 khẩu đại bác gồm 2 sư đoàn, 3 lữ đoàn, 1 trung đoàn tăng và 1 liên đoàn biệt động quân Sài Gòn. Từ công tác tình báo, quân báo, đồng chí Trần Văn Danh nắm chắc các kế hoạch, âm mưu địch, báo cáo cho lãnh đạo Trung ương Cục chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, di chuyển lực lượng, bảo đảm an toàn và bày thế trận đánh địch, làm thất bại mưu đồ xâm lược và tỏ rõ sức mạnh của lực lượng quân sự của ta ngay từ ngày đầu tiên quân Mỹ đặt chân vào đất Việt Nam. Là Tham mưu phó phụ trách tình báo, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đồng chí Trần Văn Danh đã chỉ đạo, tổ chức nắm tình hình các mục tiêu quan trọng như Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh Sài Gòn, Biệt khu Thủ đô, Bộ Tổng Tham mưu ngụy, Sân bay Tân Sơn Nhất... chỉ đạo thực hiện cách đánh phối hợp tình báo - đặc công - biệt động đạt hiệu quả cao. Khi Mỹ mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia, Quân giải phóng miền Nam triển khai các hoạt động tiếp viện cho chiến trường Campuchia, vừa để bảo vệ “hậu cứ” sau lưng căn cứ địa Trung ương Cục miền Nam. Đồng chí đã chỉ đạo Đoàn 367 trực thuộc Cục Tham mưu Miền tổ chức thành công trận đánh tập kích vào sân bay Pochentong, phá hủy 105 máy bay các loại, gần 100 ôtô và toàn bộ thiết bị, khí tài quân sự của sân bay, hơn 95% máy bay và phi công của quân đội Lonnol bị tiêu diệt. Đầu năm 1973, đồng chí được cử làm Phó Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên vào Trại Đavít Tân Sơn Nhất thực thi Hiệp định Pari. Đến Chiến dịch Phước Long (từ đêm 13/12/1974 đến ngày 06/01/1975), đồng chí được giao nhiệm vụ chỉ huy trận đánh chiếm núi Bà Đen ở Tây Ninh, một trung tâm viễn thông chiến lược quốc tế, thu tin mã thám và là điểm chỉ đường các loại máy bay của địch. Lực lượng do đồng chí chỉ huy còn thu hút hỏa lực của Lữ đoàn biệt kích dù 81 của ngụy, kiềm chế Sư đoàn 25 bộ binh ngụy; ngăn chặn không cho địch yểm trợ Phước Long khi ta tiến công. Chiến dịch Phước Long là chiến dịch lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh gần Sài Gòn, qua đó thăm dò chiến lược khả năng của quân ngụy và giúp ta phát hiện Mỹ không đưa quân can thiệp trở lại Việt Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 đến ngày 30/4/1975), đồng chí được giao chỉ huy lực lượng đặc công, biệt động bí mật chiếm giữ, bảo vệ an toàn 16 cầu dẫn vào thành phố Sài Gòn, mở đường cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn; chỉ đạo lực lượng nội đô ngăn chặn địch phá hoại những mục tiêu quan trọng như: Đài phát thanh, kho xăng, nhà máy điện, nhà máy cấp nước, kho tàng, hồ sơ lưu trữ. Dưới sự chỉ huy của đồng chí, các chiến sĩ tình báo, đặc công, biệt động đã anh dũng, mưu trí, táo bạo làm chủ và bảo vệ an toàn các mục tiêu quan trọng. Nhiều chiến sĩ biệt động, đặc công đã anh dũng hy sinh để bảo vệ an toàn cầu Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn, cầu Bình Lợi, cầu Bình Triệu... Sài Gòn hoàn toàn giải phóng, đồng chí Trần Văn Danh được thăng quân hàm Thiếu tướng và được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản về an ninh và quốc phòng, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh thành phố Sài Gòn - Gia Định (nay là Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh). Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, trong những điều kiện hết sức khó khăn, ác liệt, đồng chí Trần Văn Danh đã mưu trí, dũng cảm, quyết đoán, sáng tạo chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu giành nhiều chiến công, xây dựng Đảng bộ, Bộ Tham mưu Miền vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, góp phần quan trọng cùng Bộ Tham mưu Miền hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm 1976, đồng chí giữ cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 7 và được cử đi học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đến năm 1978, đồng chí chuyển ngành, giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kiêm Thứ trưởng Bộ Điện lực Việt Nam. Trên cương vị Thứ trưởng Bộ Điện lực, đồng chí là người trực tiếp chỉ đạo xây dựng Nhà máy Thủy điện Trị An theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Đây là công trình quan trọng, giúp Thành phố Hồ Chí Minh khắc phục tình trạng thiếu điện trong quá trình công nghiệp hóa. Năm 1999, đồng chí nghỉ hưu.
Năm 2002, đồng chí từ trần ở tuổi 79. Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, tại Nghị quyết số 456 KT HĐNN ngày 30/10/1990, đồng chí được Hội đồng Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động; tại Quyết định số 37/QĐ-CTN ngày 07/01/2022 đồng chí được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; cùng nhiều phần thưởng cao quý khác như: Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Lao động hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tên của đồng chí Trần Văn Danh được đặt tên đường tại Phường 13, quận Tân Bình. Tại xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, có trường tiểu học mang tên Trần Văn Danh


