ANH HÙNG Uông Xuân Lý
ANH HÙNG Uông Xuân Lý
Tốt nghiệp trường Công nghiệp kỹ thuật Hoà Bình năm 22 tuổi, chàng lái máy trẻ quê Sơn Phúc – Hương Sơn – Hà Tĩnh đã lặn lộn với đất đá và núi rừng để làm đường số 6 Điện Biên đi Tây Trang, Chờ Bờ đi Mộc Châu, rồi làm sân bay quân sự Đa Phúc, đập Đại Lải, làm đường tránh từ Công trình thuỷ điện Thác Bà đi Đoan Hùng – Phú Thọ. Tháng 5/1967, đồng chí được tăng cường về xây dựng lực lượng thi công cơ giới của tỉnh Hà Tĩnh nhằm đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của địch. Anh được giao nhiệm vụ làm tổ trưởng tổ máy gạt, thuộc Đội thi công cơ giới của Ty Giao thông Hà Tĩnh.
Năm 1968, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, Hà Tĩnh là một trong những tuyến lửa của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Ngã Ba Đồng Lộc có vị trí rất quan trọng trong mạng lưới giao thông Bắc – Nam trở thành trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ. Chúng muốn biến ngã ba thành một bãi hoang không có một bóng người, không một chuyến xe qua, thành điểm chết. Trước tình hình đó, ngày 10/5/1968, Ban chỉ huy giải toả Đồng Lộc được thành lập. Giữa tháng 4/1968, đơn vị thi công cơ giới của Uông Xuân Lý cũng được gấp rút điều động về đảm bảo giao thông tại khu vực trọng yếu này. Riêng Tổ máy gạt do anh làm Tổ trưởng được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông tại khu vực trọng yếu nhất: Ngã ba Đồng Lộc.
Tại vị trí được coi là chảo lửa, túi bom, hàng ngày máy bay địch thường xuyên quần đảo, bắn rốc két, ném bom bi, bom sát thương, bom từ trường, bom nổ chậm; ban đêm lại thả pháo sáng dò tìm lực lượng của ta để huỷ diệt. Tổ máy chủ lực được điều động đến Đồng Lộc với nhiệm vụ phải đảm bảo thông xe bằng mọi giá. Do yêu cầu thông xe đồng bộ trên cả tuyến dài gần 5 km, để linh hoạt, kịp thời, các máy phân công lên tuyến theo lịch. Riêng Uông Xuân Lý chịu trách nhiệm một máy luôn có mặt ở những vị trí xung yếu nhất, kịp hỗ trợ máy khác và các lực lượng tham gia, đảm bảo thông xe đồng loạt trên toàn tuyến.
Để đảm bảo an toàn, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ các anh phải gia cố lại những chiếc máy ủi cho phù hợp với thực tế chiến đấu: buồng lái được tháo hết kính chắn gió, mặt trong lót thêm lớp tôn, chèn thêm giẻ rách, chăn chiên và rạ nhằm chống lại bom bi. Do 2 dây xích và cái lưỡi gạt bằng thép liên tục hoạt động, cọ xát với đất đá trở thành vật phản quang khi có pháo sáng chiếu vào, các chiến sỹ lái máy đã nguỵ trang bằng một lớp bùn đất, tháo hết các loại đèn chiếu sáng, loại bỏ hoàn toàn ánh sáng nhân tạo trong vùng máy hoạt động. Không đèn, không trăng, người lái máy phải tự mình tạo ra cách dò đường bằng cảm giác để điều khiển xe san ủi đất. Bằng cảm giác của tai, nghe tiếng xích, tiếng máy để phân biệt đường gập ghềnh, biết đất chưa bằng để gạt và đầm qua cho bằng. Với phương pháp này, tổ máy đã bí mật san lấp hàng trăm hố bom trong đêm, đảm bảo thông đường cho xe ra tuyền tuyến. Bằng những sáng kiến, kinh nghiệm và trên hết là lòng quả cảm, tổ máy gạt Uông Xuân Lý đã làm nên những kỳ tích. Và, một trong những kỳ tích mà lịch sử mãi còn ghi đó là ngày cảm tử quân Uông Xuân Lý giáp mặt với tử thần trong lần mở đường máu ở Cầu Tối.
Ngày 13/6/1968, tại đầu bắc Cầu Tối – Đồng Lộc địch thả 1 loạt bom nổ chậm, công binh đã tập trung rà phá nhưng còn 2 quả bom nằm gần nhau chưa phá được. Trước tình hình đó, phương án được đưa ra là dùng máy ủi rà bom, vừa dò xét loại bom, nếu không phải là bom từ trường thì cho máy băng qua và thông xe khẩn trương trước giờ bom nổ. Tình huống trở nên căng thẳng, anh em trong tổ đều xung phong nhận trách nhiệm về mình. Là người có kỹ thuật, là tổ trưởng nên Uông Xuân Lý nhận trách nhiệm đầy hiểm nguy. Anh nói với 2 đồng chí trong tổ: “Tôi còn trẻ, chưa có vợ con, để tôi làm. Nếu có hy sinh vì nhiệm vụ thì tôi cũng hoàn toàn tự nguyện”. Cảm phục trước hành động đó, cả tổ đã làm lễ truy điệu sống cho anh trước lúc nhận nhiệm vụ.
Lên xe, Uông Xuân Lý anh nhanh chóng cho máy rồ ga tiến về phía 2 quả bom. Lợi dụng pháo sáng, anh cho máy tiến gần quả bom hơn. Sau gần nửa tiếng đồng hồ cho máy tiếp cận gần quả bom rồi lùi nhanh, quả bom vẫn lì lợm nằm đó không chịu nổ. Trong tình huống đó, một ý nghĩ vụt đến trong anh: phải cho máy tiếp xúc trực tiếp với 2 quả bom. Nếu bom nổ, chấp nhận hy sinh còn nếu bom không nổ, sẽ đẩy ra khu vực an toàn. Anh cho máy tiến lên, hạ thấp lưỡi gạt, tăng mạnh ga nhằm thẳng cọc tiêu đẩy tới. Quả bom bị đẩy bật ra khỏi lòng đất, vẫn không phát nổ. Không còn thời gian lưỡng lự, anh cho máy tiến lên và đẩy quả bom ra xa lòng đường. Thời gian trôi từng phút chậm chạp, căng thẳng. Toàn tổ máy và những người làm nhiệm vụ hồi hộp, nín thở. Khi quả bom thứ nhất được đẩy ra xa cách đường chừng 30 m, Uông Xuân Lý tiếp tục gạt quả bom thứ hai và cứ như thế sau một tiếng đồng hồ, 2 quả bom đã cách con đường dã chiến chừng 30 – 50m trong tiếng reo mừng và những vòng tay ôm chặt của đồng đội, trả lại con đường cho đoàn xe vận tải 100 chiếc chở hàng hoá vũ khí vào Nam đánh giặc.
Rời Đồng Lộc, Uông Xuân Lý tiếp tục cùng các đồng nghiệp vào làm đường ở Kỳ Anh, năm 1973 lại về đội xe của Tổng đội TNXP 299 và hết chiến tranh, ông về làm quản lý ở Công ty xây dựng quản lý đường 4 Nghệ Tĩnh. Trong suốt những năm tháng tham gia chiến đấu và lao động trên các mặt trận, ông đã nhiều lần bị thương. Với tỉ lệ thương tật 56%, ông luôn bị hành hạ bởi những cơn đau, nên năm 1991 ông được nghỉ hưu và trở về sống cùng con cháu tại thành phố Hà Tĩnh.
Từ những chiến tích, cống hiến của ông trong những năm tháng chiến đấu trên Ngã Ba Đồng Lộc, năm 2010, Uông Xuân Lý được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND
Hội yêu khí tài quân sự



