Anh hùng Y Ơn Niê - Lời gọi cuối cùng giữa buôn Đắk Tuôr
Câu chuyện thật về Anh hùng, liệt sĩ Y Ơn Niê, người con của buôn căn cứ cách mạng Đắk Tuôr, khi bị địch bắt và tra tấn trong trận càn năm 1962 vẫn không khuất phục, trước lúc hy sinh còn kêu gọi đồng bào tin theo cách mạng, theo Đảng, theo Bác Hồ.
Buôn Đắk Tuôr, xã Cư Pui, huyện Krông Bông là một vùng đất đặc biệt của Đắk Lắk. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây từng là căn cứ cách mạng của tỉnh, nơi đồng bào bám rừng, bám buôn, nuôi giấu cán bộ, che chở lực lượng kháng chiến. Con đường bê tông hôm nay dẫn vào buôn sáng sủa, bình yên, nhưng dưới lớp đất ấy từng có những lối mòn nhỏ luồn qua tre nứa, nơi cán bộ và du kích rút lên hang đá Đắk Tuôr mỗi khi địch mở càn.
Y Ơn Niê sinh ra và lớn lên ở chính mảnh đất ấy. Anh là người con của buôn Đắk Tuôr, lớn lên giữa tiếng suối, tiếng cồng chiêng, giữa đời sống nghèo khó nhưng giàu tình nghĩa của đồng bào vùng căn cứ. Chiến tranh đến, buôn làng không còn bình yên. Địch càn quét, dồn dân, lập khu tập trung, tìm cách cắt đứt liên hệ giữa dân với cách mạng. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, những người trẻ như Y Ơn đã sớm chọn con đường bám buôn, bám dân, đi theo cách mạng.
Khi còn rất trẻ, Y Ơn Niê đã là Xã đội trưởng, chỉ huy Đội du kích buôn Đắk Tuôr. Công việc của anh không chỉ là cầm súng. Anh phải nắm tình hình địch, bảo vệ đồng bào, giữ liên lạc với cán bộ, tổ chức cho dân tránh càn, tìm đường rút khi nguy cấp. Ở vùng căn cứ, mỗi người du kích là một người con của buôn làng, vừa chiến đấu, vừa bảo vệ cha mẹ, vợ con, anh em mình.
Tháng 9 năm 1962, địch mở một cuộc càn lớn, bao vây nhiều ngày khu sản xuất của đồng bào buôn Đắk Tuôr. Chúng muốn dồn dân ra khỏi vùng căn cứ, buộc đồng bào quay về khu tập trung, làm cho cách mạng mất chỗ dựa. Trong tình thế nguy hiểm ấy, Y Ơn một mình cắt đường rừng đi trinh sát, tìm cách nắm tình hình để báo cho lực lượng và dân làng.
Giữa trưa, khi rừng núi im ắng đến ngột ngạt, địch từ nhiều hướng siết vòng vây. Y Ơn không may sa vào tay giặc. Từ giây phút ấy, người du kích trẻ bước vào một thử thách khốc liệt khác: không còn được chiến đấu giữa đồng đội, không còn có súng trong tay, mà phải đối mặt với tra tấn, dụ dỗ, mua chuộc và cái chết đã ở rất gần.
Kẻ thù biết Y Ơn là Xã đội trưởng, là người có uy tín trong buôn. Chúng hiểu nếu khuất phục được anh, chúng có thể làm lung lay tinh thần đồng bào. Vì vậy, chúng dùng đủ mọi cực hình để tra tấn, rồi lại dụ dỗ, hứa hẹn, tìm cách ép anh kêu gọi dân làng bỏ căn cứ, trở về khu tập trung. Nhưng càng đánh đập, càng mua chuộc, chúng càng thấy người thanh niên ấy không chịu cúi đầu.
Điều làm câu chuyện thêm đau xót là lúc bị bắt, Y Ơn vừa mới được nhìn thấy người con gái đầu lòng chào đời. Đứa con ấy là kết quả tình yêu của anh với người vợ trẻ H’Mun Byă, cùng buôn Đắk Tuôr. Một người cha trẻ vừa kịp thấy mặt con, chưa kịp sống trọn niềm vui gia đình, đã phải đối diện với đòn roi và cái chết. Nhưng chính giây phút ấy càng cho thấy sự lựa chọn của anh lớn lao đến nhường nào: anh có gia đình để thương, có vợ trẻ để nhớ, có con nhỏ để mong được trở về, nhưng vẫn không phản bội buôn làng và cách mạng.
Một buổi sáng tháng 10 năm 1962, địch trói tay, bịt mắt Y Ơn, đưa anh về khu vực nơi đồng bào buôn Đắk Tuôr đang trú ẩn. Chúng muốn biến anh thành công cụ tuyên truyền. Chúng tưởng rằng sau những ngày bị tra tấn, trước mặt dân làng và trước cái chết cận kề, anh sẽ sợ hãi, sẽ nói theo lời chúng, sẽ kêu gọi đồng bào rời bỏ cách mạng.
Nhưng chúng đã lầm.
Đứng trước đồng bào của mình, trong tư thế bị trói và bị bịt mắt, Y Ơn không cầu xin. Anh không nói lời làm yếu lòng dân. Anh dùng những phút cuối cùng để nhắn với bà con rằng không được nghe theo lời dụ dỗ của kẻ thù, phải đi theo cách mạng, theo Đảng, theo Bác Hồ đến cùng. Đó không còn là lời của một người đang bị bắt, mà là lời thề của một người đảng viên cách mạng trước dân làng mình.
Câu nói ấy làm địch tức giận. Chúng không thể khuất phục anh bằng tra tấn. Chúng cũng không thể dùng anh để lừa đồng bào quay về khu tập trung. Ngay trước mặt nhân dân trong buôn, chúng hèn hạ hành quyết Y Ơn Niê. Người thanh niên ấy ngã xuống trên chính mảnh đất buôn làng mình, nơi anh sinh ra, lớn lên, yêu thương, chiến đấu và bảo vệ đến hơi thở cuối cùng.
Cái chết của Y Ơn không làm buôn Đắk Tuôr sợ hãi như địch mong muốn. Trái lại, sự hy sinh ấy làm bùng lên lòng căm thù giặc và ý chí đi theo cách mạng của đồng bào. Người dân hiểu rằng nếu một người trẻ, vừa có vợ, vừa có con nhỏ, bị tra tấn đến vậy mà vẫn không chịu phản bội, thì con đường cách mạng ấy là con đường phải giữ. Từ sau cái chết của anh, đồng bào trong và ngoài buôn càng thêm đoàn kết, càng tin tưởng, càng bám chặt căn cứ, tiếp sức cho cán bộ, chiến sĩ bảo vệ Đắk Tuôr.
Nhiều năm sau chiến tranh, buôn Đắk Tuôr đổi thay. Những nhà tranh vách nứa của thời căn cứ không còn như cũ. Con đường mòn ngày xưa dẫn quân ta rút lên hang đá khi giặc càn nay đã thành đường bê tông. Cỏ cây xanh phủ lên nền đất từng in dấu khói lửa. Nhưng người dân nơi đây vẫn nhắc đến Y Ơn Niê như một người con bất tử của buôn.
Năm 1996, Nhà nước truy tặng Y Ơn Niê danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đến tháng 5 năm 2015, Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Y Ơn Niê được xây dựng tại buôn Đắk Tuôr, trong khuôn viên gia đình vợ ông. Ngôi nhà tưởng niệm mang kiến trúc truyền thống của đồng bào M’nông, trở thành nơi người dân, đoàn viên, thanh niên và các thế hệ trẻ tìm về dâng hương, nghe kể chuyện cũ, học về lòng trung thành và khí tiết cách mạng.
Mỗi lần đoàn viên, thanh niên đến Nhà tưởng niệm, câu chuyện về Y Ơn lại được kể lại. Người ta không chỉ kể về một cái chết anh dũng, mà kể về một người rất trẻ từng có gia đình, có người vợ H’Mun Byă, có đứa con gái đầu lòng mới sinh, có một buôn làng để thương yêu. Chính những điều đời thường ấy làm cho sự hy sinh của anh càng xúc động. Anh không phải một biểu tượng xa cách. Anh là người con của Đắk Tuôr, người chồng, người cha, người Xã đội trưởng, người đảng viên đã chọn cái chết chứ không chọn phản bội.
Câu chuyện “Lời gọi cuối cùng giữa buôn Đắk Tuôr” vì vậy không chỉ là câu chuyện về Anh hùng Y Ơn Niê. Đó còn là câu chuyện về sức mạnh của vùng căn cứ cách mạng Đắk Tuôr, nơi từ già đến trẻ đều một lòng đi theo cách mạng, nơi sự hy sinh của một người đã làm bền thêm ý chí của cả buôn làng. Giữa núi rừng Krông Bông, lời gọi cuối cùng của Y Ơn năm 1962 vẫn như còn vang lại: đừng khuất phục, đừng nghe lời dụ dỗ của kẻ thù, hãy giữ lòng tin với cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ đến cùng.
Các chi tiết chính được đối chiếu từ Báo Đắk Lắk: Y Ơn Niê sinh ra, lớn lên và hy sinh tại buôn Đắk Tuôr, xã Cư Pui, huyện Krông Bông; từ năm 1965–1975, Đắk Tuôr được xây dựng làm Khu căn cứ kháng chiến tỉnh Đắk Lắk. Nguồn này cũng ghi tháng 9/1962, khi địch càn và bao vây khu sản xuất của đồng bào, Y Ơn là Xã đội trưởng chỉ huy Đội du kích buôn Đắk Tuôr, một mình đi trinh sát thì bị bắt; tháng 10/1962, địch đưa anh về trước đồng bào để ép kêu gọi dân quay về khu tập trung nhưng anh đã kêu gọi bà con đi theo cách mạng, sau đó bị hành quyết trước mặt dân làng. Các chi tiết về gia đình và tưởng niệm cũng được đối chiếu từ cùng nguồn: khi bị bắt, Y Ơn vừa thấy mặt con gái đầu lòng với vợ là bà H’Mun Byă; năm 1996, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND; tháng 5/2015, huyện Krông Bông khởi công xây dựng Nhà tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Y Ơn Niê tại buôn Đắk Tuôr, trong khuôn viên gia đình vợ ông.



