"Anh Thanh mất, đem theo tất cả đi rồi" Trích lời cố tổng bí thư Lê Đức Thọ.
Tiểu sử, cuộc đời, thành tựu của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914 – 1967) là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc nhất của Đảng, Nhà nước và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là vị Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam (sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp), được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phong hàm năm 1959.
I. Tiểu sử và Cuộc đời Cách mạng
Nguyễn Chí Thanh tên thật Nguyễn Văn Vịnh. Quê ở Làng Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Tháng 7/1937, ông kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Trong giai đoạn 1938 – 1943, ông nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Huế, Buôn Ma Thuột.
Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, tại Hội nghị Tân Trào, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Nguyễn Chí Thanh.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp:
- Cuối năm 1945 – 1948: Trở về quê hương miền Trung, giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, sau đó là Bí thư Phân khu ủy Bình - Trị - Thiên. Trong hoàn cảnh vô vàn khó khăn, ông trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ địa, khôi phục và duy trì phong trào chiến tranh du kích bám trụ vùng sau lưng địch.
- Năm 1948 – 1950: Giữ chức Bí thư Liên khu ủy 4, lãnh đạo quân và dân khu 4 vượt qua nạn đói, thiên tai và củng cố vững chắc hậu phương lớn cho cả nước.
- Tháng 7 năm 1950: Ông được Trung ương Đảng điều động vào quân đội, bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trên cương vị này, ông có công lao to lớn trong việc xây dựng hệ thống cơ quan chính trị từ cấp Tổng cục đến Đại đội, khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội.
- Năm 1951: Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, ông được bầu vào Bộ Chính trị.
Trong Kháng Giai đoạn xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc:
- Năm 1959: Ông được phong quân hàm Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam (là vị Đại tướng thứ hai của quân đội ta sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp).
- Năm 1961 (Tháng 1): Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, được phân công phụ trách công tác nông nghiệp.
- Giai đoạn 1961 – 1964:
+ Ông giữ chức Trưởng ban Công tác Nông thôn Trung ương.
+ Trực tiếp xuống cơ sở, phát động và chỉ đạo phong trào thi đua "Gió Đại Phong" (lấy mô hình Hợp tác xã Đại Phong ở Lệ Thủy, Quảng Bình làm điển hình). Phong trào này tạo ra bước ngoặt lớn trong sản xuất nông nghiệp, thâm canh tăng vụ và xây dựng nông thôn mới ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
· Trong giai đoạn Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại Chiến trường Miền Nam (1964 - 1967):
- Tháng 10 năm 1964:
+ Trước yêu cầu của chiến trường khi đế quốc Mỹ bắt đầu đưa quân viễn chinh vào miền Nam, Bộ Chính trị quyết định điều động Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào Nam.
+ Ông giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm Chính ủy Các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (lấy bí danh là Anh Sáu).
- Năm 1965 – 1966:
+ Đề ra tư duy chiến lược quân sự xuất sắc mang tính thực tiễn cao: "Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt" và phương châm "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh" để khắc chế thế mạnh về hỏa lực, không quân và pháo binh của quân đội Mỹ.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
+ Trực tiếp chỉ đạo thành công nhiều chiến dịch lớn và xây dựng các vành đai diệt Mỹ nổi tiếng (như phong trào đánh Mỹ ở Củ Chi, Núi Thành...).
- Cuối năm 1966 – Đầu năm 1967:
+ Hoàn thành bản đề án chiến lược toàn diện cho giai đoạn tiếp theo (tiền đề quan trọng cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968).
+ Ngày 5 tháng 7 năm 1967: Ra Hà Nội để báo cáo với Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình chiến trường miền Nam.
Ngày 6/7/1967, sau khi ra Hà Nội báo cáo tình hình chiến trường và chuẩn bị quay lại miền Nam, ông đột ngột qua đời do một cơn thót tim cấp tính.
II. Những Thành tựu và Đóng góp Nổi bật
· Xây dựng bản chất chính trị cho Quân đội (1950 – 1961)
- Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông xây dựng hệ thống công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội, đề ra phương châm "Người trước, súng sau", giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội.
· Lãnh đạo phong trào Nông nghiệp cả nước (1961 – 1964)
- Ông được Đảng phân công làm Trưởng ban Công tác Nông thôn Trung ương, ông xuống tận đồng ruộng, phát động phong trào thi đua "Gió Đại Phong" (tại hợp tác tác Đại Phong, Quảng Bình), đưa nông nghiệp miền Bắc phát triển mạnh mẽ.
· Chỉ đạo chiến lược tại Chiến trường miền Nam (1964 – 1967)
- Khi Mỹ đưa quân chư hầu và quân Mỹ trực tiếp vào miền Nam, ông bình tĩnh phân tích cục diện và đề ra các tư tưởng chỉ đạo chiến lược kinh điển:
+ "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh": Giải pháp đánh cận chiến, vô hiệu hóa hỏa lực không quân và pháo binh hiện đại của Mỹ.
+ "Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt": Đập tan tư tưởng e ngại sức mạnh quân sự Mỹ.
+ Xây dựng các "Vành đai diệt Mỹ" nổi tiếng như Củ Chi, Hòa Vang.
III. "Anh Thanh mất, đem theo tất cả đi rồi" Trích lời cố tổng bí thư Lê Đức Thọ.
Vào giữa năm 1967, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt và phức tạp nhất khi quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến với số lượng lớn và hỏa lực tối tân. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là hiện thân của tư duy quân sự thực tiễn và táo bạo. Ông là người đầu tiên giải mã được cách đánh quân Mỹ và "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh"— một sáng kiến chiến lược đã phá vỡ sự lúng túng ban đầu của ta trước một đối thủ có tiềm lực kinh tế và quân sự vượt trội.
Do đó khi ông đột ngột ra đi, toàn bộ nhịp đập, sự nhạy cảm sắc bén với chiến trường miền Nam, cùng những phác thảo chiến lược chưa kịp hoàn thiện trong đầu ông (tiền đề cho cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968) bỗng chốc bị cắt đứt. Cụm từ "đem theo tất cả" ở đây phản ánh sự tiếc nuối tột cùng rằng những kinh nghiệm sống còn, cách nhìn nhận vấn đề từ thực tiễn chiến trường đẫm máu mà chỉ riêng ông mới có đã vĩnh viễn không thể tái tạo ngay lập tức.
Trong hệ thống lãnh đạo cách mạng, mỗi nhà lãnh đạo mang một phong cách và thế mạnh riêng. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nổi bật với phong cách của một "vị tướng quần chúng", tràn đầy sinh khí, quyết liệt, dám nghĩ dám làm và luôn có mặt ở những điểm nóng hiểm trở nhất.
Ông mang đến Bộ Chính trị và chiến trường một năng lượng tinh thần khổng lồ: sự lạc quan cách mạng tuyệt đối, sự xông xáo bám sát cơ sở và uy tín áp đảo để quy tụ các lực lượng.
Đồng chí Lê Đức Thọ hiểu rằng, cơ cấu tổ chức có thể kiện toàn, chức vụ có thể phân công cho người khác, nhưng khí chất, bản lĩnh và năng lượng truyền lửa độc nhất vô nhị ấy của Nguyễn Chí Thanh thì không một ai có thể "mang theo" hay lấp đầy.
Là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Lê Đức Thọ là người nắm rõ hơn ai hết bài toán nhân sự và sức mạnh của bộ máy Đảng, quân đội. Câu nói ấy là sự thừa nhận mang tính hiện thực chính trị lạnh lùng: Có những khoảng trống quá lớn mà sự thay thế về mặt hành chính không bao giờ khỏa lấp được. Câu nói gói gọn cả nỗi đau mất đi một người đồng chí chiến đấu chí cốt, lẫn nỗi lo âu trước thềm những quyết định lịch sử của dân tộc khi thiếu vắng một bộ óc chiến lược xuất chúng.
à Câu nói "Anh Thanh mất, đem theo tất cả đi rồi" của đồng chí Lê Đức Thọ không đơn thuần là một lời điếu văn bằng miệng. Đó là bia tưởng niệm bằng sự thật lịch sử, khắc họa trọn vẹn tầm vóc khổng lồ, sự cô độc của thiên tài và mức độ tổn thất nặng nề mà Đảng ta và quân đội ta phải gánh chịu trước sự ra đi đột ngột của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vào mùa hè năm 1967.



