ATK – NƠI LỊCH SỬ CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN
ĐOÀN TRƯỜNG THPT BÌNH YÊN: ATK – NƠI LỊCH SỬ CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN
ATK – NƠI LỊCH SỬ CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN
Có những vùng đất, chỉ cần nhắc tên thôi cũng đủ khiến lòng người chậm lại. Không phải vì nơi ấy có những tòa nhà cao tầng hay những con đường tấp nập người qua lại. Cũng không phải vì sự giàu có hay nhộn nhịp của phố thị. Mà bởi nơi ấy trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) được Trung ương Đảng chọn làm An toàn khu Trung ương (ATK) - Thủ đô kháng chiến của cả nước. Biết bao tên núi, tên rừng, tên suối, tên đèo, tên làng bản gắn với những năm tháng chiến khu của Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo trung ương, chính phủ, mặt trận, quân đội… đã trở thành địa danh lịch sử sống mãi trong tâm hồn những người con đất Việt.
An toàn khu (ATK) là một vùng đất như thế. Nằm ở phía tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, đây là vùng trung du chuyển tiếp lên miền núi, được bao bọc bởi những dãy núi cao, những cánh rừng già và hệ thống khe suối đan xen như một bức thành thiên nhiên kiên cố. Từ ATK có thể dễ dàng liên lạc với các tỉnh Tuyên Quang (cũ), Bắc Kạn (cũ), Cao Bằng, Lạng Sơn và các căn cứ cách mạng khác ở chiến khu Việt Bắc.
Ngày nay, đường vào ATK đã được trải nhựa rộng rãi. Xe ô tô có thể đi đến hầu hết các điểm di tích. Nhưng những năm 1946 - 1954 thì hoàn toàn khác, khi ấy, những con đường chỉ vừa đủ cho người đi bộ hoặc ngựa thồ, có những đoạn phải men theo sườn núi, có đoạn lại lội qua suối, có đoạn chỉ là những lối mòn dưới tán rừng. Chính sự hiểm trở ấy lại trở thành một lợi thế đặc biệt, quân địch rất khó tiếp cận, máy bay khó phát hiện. Nếu bị tấn công, lực lượng cách mạng có thể nhanh chóng cơ động sang các khu vực khác. Đây chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tính đến khi lựa chọn nơi đây làm An toàn khu - gọi tắt là ATK.
Hai chữ "An toàn" nghe rất giản dị. Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, đó là nơi bảo vệ cơ quan đầu não của cách mạng. Vì thế, việc lựa chọn địa điểm không chỉ dựa vào địa hình mà còn dựa vào lòng dân. Định Hóa có một điều đặc biệt, đó là tình cảm son sắt của đồng bào các dân tộc đối với cách mạng.
Từ rất sớm, nhân dân nơi đây đã nuôi giấu cán bộ, che chở cho các chiến sĩ cách mạng. Người dân nhường nhà cho cơ quan Trung ương, nương rẫy để dựng lán, nhường từng bát gạo, từng bó củi, từng chiếc chăn. Có những gia đình nhiều năm không biết người ở trong căn lán nhỏ cạnh nhà mình là ai. Họ chỉ biết đó là cán bộ cách mạng, thế là đủ: Không hỏi, không tò mò, không tiết lộ. Chính sự tin yêu ấy đã tạo nên một "pháo đài lòng dân" vững chắc hơn bất kỳ công sự nào.
Khi nhắc đến ATK, nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng: nếu không có sự đùm bọc của nhân dân thì rất khó giữ được bí mật của cơ quan đầu não suốt chín năm kháng chiến.
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ vào tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp nhanh chóng mở rộng các cuộc tiến công nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lúc ấy, tương quan lực lượng vô cùng chênh lệch. Quân Pháp có máy bay, xe tăng, đại bác, nguồn tiếp tế dồi dào. Trong khi đó, quân đội ta còn rất non trẻ, vũ khí thiếu thốn, thiếu lương thực, thiếu thuốc men, quần áo cũng thiếu. Có đơn vị, cả đại đội chỉ có vài khẩu súng trường, nhiều người phải dùng giáo mác hoặc súng thu được của địch. Nhưng điều mà chúng ta có lại là thứ mà thực dân Pháp không bao giờ có được đó là lòng yêu nước, là niềm tin vào độc lập, là sự đoàn kết của toàn dân. Chính trong hoàn cảnh đầy thử thách ấy, Trung ương Đảng quyết định đưa các cơ quan quan trọng lên Việt Bắc để xây dựng căn cứ địa lâu dài. Và ATK (huyện Định Hóa cũ) trở thành trái tim của căn cứ địa ấy.
Trong những cánh rừng hôm nay vẫn còn lưu giữ nhiều địa danh đã đi vào lịch sử như: Đồi Khau Tý, Tỉn Keo, Khuôn Tát, Phú Đình, Điềm Mặc, Đèo De, Đồi Phong tướng… mỗi cái tên đều gắn với một sự kiện quan trọng. Có nơi Bác Hồ ở và làm việc, nơi Bộ Chính trị họp bàn những quyết sách lớn, nơi Tổng Quân ủy chỉ đạo các chiến dịch, nơi ghi dấu bước trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Người ta thường nói:
“Lịch sử được viết trong những cung điện
Nhưng lịch sử Việt Nam lại được viết giữa núi rừng”
Đi giữa ATK hôm nay, thật khó tưởng tượng rằng nơi yên bình này đã từng là “Thủ đô kháng chiến”. Đó là thời kỳ mà mỗi quyết định được đưa ra giữa núi rừng Việt Bắc đều có thể làm thay đổi cục diện của cuộc kháng chiến.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, trước dã tâm xâm lược trở lại của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Người khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lời kêu gọi ấy đã trở thành tiếng hiệu triệu non sông. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến với một niềm tin mãnh liệt rằng độc lập dân tộc là giá trị thiêng liêng không gì có thể đánh đổi.
Đất nước khi ấy đứng trước muôn vàn khó khăn sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời chưa đầy hai năm. Chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và nạn đói, ngân khố gần như trống rỗng. Quân đội mới được thành lập, trang bị còn rất thiếu thốn. Trong khi đó, quân đội Pháp được trang bị hiện đại, có máy bay, xe tăng, pháo binh và sự hậu thuẫn của các thế lực thực dân. Nhiều người từng đặt câu hỏi:“Làm sao một đất nước nhỏ bé, còn nghèo khó như Việt Nam có thể chống lại một cường quốc quân sự?”
Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ phương châm: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính. Đó không chỉ là khẩu hiệu, là chiến lược mang tính quyết định. Nếu Pháp mạnh về vũ khí thì ta mạnh về lòng dân, nếu Pháp muốn “đánh nhanh, thắng nhanh” thì ta chủ trương đánh lâu dài, từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng, nếu Pháp kiểm soát thành phố thì ta xây dựng căn cứ ở nông thôn và miền núi. Chính vì vậy, căn cứ địa Việt Bắc, mà trung tâm là ATK Định Hóa, trở thành nơi giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Từ năm 1947, nhiều cơ quan của Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng cùng nhiều cơ quan quan trọng khác lần lượt chuyển lên làm việc tại ATK.
Giữa núi rừng ATK Định Hóa, những căn lán nhỏ bằng tre, nứa, lá cọ được dựng lên rất giản dị, không có biển tên, không có cổng lớn, không có hàng rào kiên cố. Nhưng bên trong lại là nơi làm việc của những người đang gánh trên vai vận mệnh của cả dân tộc như: nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc, đồng chí Trường Chinh chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng, các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ cùng nhiều đồng chí lãnh đạo khác ngày đêm bàn bạc công việc. Nhiều cuộc họp diễn ra ngay trong những căn nhà sàn của đồng bào hoặc dưới những mái lán lợp lá cọ. Có khi chỉ với một chiếc bàn gỗ mộc, vài chiếc ghế tre và ngọn đèn dầu leo lét. Nhưng chính tại những nơi bình dị ấy, nhiều quyết sách mang tầm vóc lịch sử đã được hình thành.
Mùa thu năm 1947 là một dấu mốc đặc biệt. Thực dân Pháp mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc với mục tiêu rất rõ ràng: tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, bắt giữ Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhanh chóng kết thúc chiến tranh.Trong hoàn cảnh ấy, từ ATK Định Hóa và các địa điểm trong căn cứ Việt Bắc, Trung ương Đảng đã bình tĩnh chỉ đạo toàn quân, toàn dân thực hiện kế hoạch đánh địch. Không đối đầu trực diện ở nơi địch mạnh, không nóng vội, không chủ quan. Bằng sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, lực lượng địa phương và dân quân du kích, quân ta liên tục đánh vào những điểm yếu của địch, cắt đường tiếp tế, chia cắt đội hình, buộc quân Pháp rơi vào thế bị động. Sau hơn hai tháng chiến đấu, cuộc tiến công Việt Bắc của thực dân Pháp thất bại, cơ quan đầu não kháng chiến được bảo vệ an toàn. Không chỉ làm phá sản kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, chiến thắng Việt Bắc Thu – Đông năm 1947 còn khẳng định đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng đắn. Sau chiến thắng ấy, niềm tin của nhân dân cả nước vào thắng lợi cuối cùng càng được củng cố. ATK Định Hóa bước sang một giai đoạn mới.
Nếu trước đó, nơi đây chủ yếu là nơi bảo vệ cơ quan lãnh đạo, thì từ năm 1948 trở đi, ATK còn trở thành trung tâm hoạch định những chiến lược lớn cho toàn bộ cuộc kháng chiến. Tất cả đều được chuẩn bị từ những mái lán đơn sơ giữa đại ngàn. Từ những đội tự vệ nhỏ bé, lực lượng vũ trang cách mạng đã phát triển thành Quân đội quốc gia có tổ chức, có kỷ luật và ngày càng lớn mạnh. Một sự kiện diễn ra trên một ngọn đồi nhỏ thuộc xã Phú Đình, nơi ấy được gọi bằng cái tên đầy tự hào: Đồi Phong tướng - không chỉ là một địa danh mà còn là nơi ghi dấu lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam mới, những vị tướng đầu tiên của Quân đội quốc gia được Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Nhà nước trao quân hàm. Và cũng từ nơi ấy, một đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” bước sang một chặng đường phát triển mới, sẵn sàng viết nên những chiến công vang dội trong lịch sử dân tộc. Nhiều vị tướng có mặt trong buổi lễ hôm ấy đã trực tiếp chỉ huy hoặc tham gia chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” khẳng định sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đồi Phong tướng là nơi đánh dấu sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam thì toàn bộ ATK (An toàn khu) chính là "bộ não" của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong suốt chín năm trường kỳ kháng chiến, từ những mái lán đơn sơ giữa đại ngàn Việt Bắc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều quyết sách chiến lược, từng bước dẫn dắt dân tộc đi từ thế phòng ngự sang thế chủ động tiến công và đi đến thắng lợi cuối cùng.
"Lịch sử sẽ chỉ là những con số khô khan nếu chúng ta không biết lắng nghe những câu chuyện được kể từ chính những vùng đất đã làm nên lịch sử".
Ngày nay khi lịch sử bước vào trái tim thế hệ trẻ, khi các em đến với địa chỉ đỏ Khu di tích quốc gia đặc biệt ATK, giữa những đồi cọ xanh mướt. Chúng ta đang bước vào một phần rất thiêng liêng của lịch sử dân tộc, mỗi mái lán, mỗi con suối, mỗi gốc cây nơi đây đều đã từng chứng kiến những năm tháng đất nước đứng trước những quyết định sinh tử.
Khau Tý, nơi Bác Hồ trở lại Việt Bắc: Ngôi lán được phục dựng theo nguyên mẫu, đơn sơ với mái lá cọ, vách tre, sàn gỗ. Đứng trước căn lán ấy, thật khó tin rằng đây từng là nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày đầu xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Điều đặc biệt của ngôi lán là “Không có gì giống nơi ở của một nguyên thủ quốc gia”. Khi cả dân tộc đang kháng chiến, Bác Hồ luôn chọn cho mình cuộc sống giản dị như mọi người dân. Khau Tý từng là "Phủ Chủ tịch" đầu tiên, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi đầu chặng đường gian khó, ác liệt nhưng vô cùng vẻ vang ở “Trung tâm Thủ đô kháng chiến”.
Căn lán đơn sơ ở Khau Tý
Tỉn Keo – Nơi những quyết định lịch sử được hình thành: Tỉn Keo nằm dưới chân Đèo De, Núi Hồng, một nơi bản làng nghèo nàn thưa thớt giáp gianh 2 tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang là một sự lựa chọn khoa học mà kẻ địch cũng không thể ngờ rằng "Chùa rách, bụt vàng" (như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Nơi đặt cơ quan đầu não của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nối với Tổng Bí thư Trường Chinh, văn phòng Trung ương Đảng và gần nơi làm việc của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vừa bí mật lại bất ngờ và đảm bảo an toàn để chỉ đạo kháng chiến. Chứng tỏ sự nhận định của Bác: "Căn cứ địa vững chắc nhất là lòng dân". Bác cùng các đồng chí Trung ương được đồng bào các dân tộc "Bát cơm xẻ nửa, chăn sui đắp cùng" trở che, bảo vệ an toàn tuyệt đối, chứng tỏ tầm nhìn chiến lược của Người: "Cách mạng đã do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi"… Tại nơi đây Bác Hồ đã chủ trì họp Bộ Chính trị, làm việc với Tổng bí thư Trường Chinh, Trưởng ban thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn và Phó trưởng ban thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng, Bí thư Tổng bộ Việt Minh Hoàng Quốc Việt, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp…, đây còn là nơi Bác tiếp đồng chí LêôPhiGhe Phó chủ tịch Đoàn thanh niên dân chủ quốc tế, Tổng thư ký đoàn thanh niên Cộng hòa Pháp, Tổng thư ký đoàn thanh niên Cộng hòa Pháp, ủy viên Trung ương Đảng cộng sản Pháp, Nghị sĩ quốc hội Pháp, đồng chí Sơn Ngọc Minh, nhà lãnh đạo cách mạng Campuchia, Hoàng thân XuPhaNuVông, Chủ tịch mặt trận Lào yêu nước… đầu năm 1954, Bác làm việc với đoàn điện ảnh Liên Xô do đạo diễn RoManCacMen sang làm phim "Việt Nam trên đường thắng lợi"…
Lán Tỉn Keo nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc (1948-1954)
Cũng tại Đồi Tỉn Keo, Bác đã soạn thảo và ký nhiều ký nhiều văn kiện quan trọng như: Từ ngày 7/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển xuống làm việc trên đồi Tỉn Keo, chân đèo De, Núi Hồng. Người viết thư gửi Hội nghị quân y lần thứ sáu (9/3/1948) "Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu";… "Một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền". Người gửi thư cho Hội nghị cán bộ Đảng trong quân đội lần thứ tư: "Các đồng chí ta trong bộ đội cần chuẩn bị đầy đủ tinh thần, nghị lực, kế hoạch để lãnh đạo bộ đội vượt qua mọi khó khăn, quyết giành cho được thắng lợi"…; Lời tuyên bố sau khi Pháp thành lập Chính Phủ bù nhìn, tay sai tại Hà Nội (7/6/1948); Lời kêu gọi Thi đua ái quốc: 11/6/1948; Ký sắc lệnh số 206 (19/8/1948) thành lập Hội đồng quốc phòng tối cao…; Qui định tổ chức mới của Bộ Tổng tư lệnh quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam (11/7/1950); Thành lập Đảng uỷ mặt trận và Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới (25/7/1950); Tại căn lán đơn sơ giữa núi rừng, Người đã chủ trì hội nghị Bộ chính trị thông qua chủ trương, kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 – 1954 của Tổng quân uỷ (10/1953), ngày 6/12/ 1953 Bộ Chính trị, họp tại đồi Tỉn Keo đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã diễn ra đúng thời điểm, đúng kế hoạch và giành được thắng lợi mang tính quyết định, làm nên một kỳ tích “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam.
Khuôn Tát – Nơi thiên nhiên và lịch sử hòa làm một: Nước suối vẫn trong vắt như lời kể của những người từng sống và làm việc nơi đây, những tảng đá lớn nằm im lặng giữa dòng nước. Lán Khuôn Tát là nơi diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đồng chí lãnh đạo Đảng, quân đội; nơi Bác viết nhiều tài liệu quan trọng về củng cố chính quyền, củng cố hậu phương, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang. Tháng 01/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cầm quân đi chiến dịch Điện Biên Phủ. Người đã căn dặn: "Tổng Tư lệnh ra mặt trận, Tướng quân tại ngoại! Trao cho chú toàn quyền quyết định. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định rồi báo cáo sau”. "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh". Thấm thía lời dặn của Bác và xét diễn biến thực tế trên chiến trường, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc", và đó được coi là quyết định quan trọng làm nên thắng lợi của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình tại Đông Dương.
Lán Khuôn Tát
Đồi Phong tướng – Nơi lịch sử chạm đến trái tim: Ngày 28/5/1948 tại Nà Lọm, xã Phú Đình, An toàn khu (ATK) ở Định Hóa, Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ thụ phong chức Đại tướng đầu tiên của quân đội ta cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ Việt Nam. Trước đó, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 19/1/1948 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định phong quân hàm cấp tướng, tá cho cán bộ quân đội. Trước đó, ngày 20/1/1948 tại Phủ Chủ tịch – mái lán cọ đơn sơ ở Khuôn Tát (xã Phú Đình), Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ lãnh đạo - chỉ huy quân đội, quân hàm Đại tướng: Võ Nguyên Giáp, quân hàm Trung tướng: Nguyễn Bình, quân hàm Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình. Trong một căn nhà dựng bên suối lớn, dựa một bên núi, cây cối chen phủ kín, ở ngoài trông vào rất khó thấy mà máy bay cũng khó lòng sục sạo. Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công…” trông đơn giản mà trang nghiêm. Chính tại nơi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Nhà nước trao quân hàm cho những vị tướng đầu tiên của Quân đội quốc gia Việt Nam. Từ ngọn đồi nhỏ giữa đại ngàn Việt Bắc, những người chỉ huy đầu tiên của quân đội cách mạng đã nhận lấy trọng trách trước Tổ quốc. Họ không nhận quyền lực, họ nhận trách nhiệm, họ không nhận vinh quang, họ nhận lời hứa sẽ chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do của dân tộc. Đó là biểu tượng của lòng trung thành với Tổ quốc, của tinh thần trách nhiệm và của khát vọng giành độc lập.
Đồi Phong tướng - Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ thụ phong quân hàm Đại tướng đầu tiên
Hôm nay, đứng giữa dãy núi trùng điệp đang dần khuất trong ánh chiều, tôi chợt nhớ đến câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Giữ nước hôm nay không còn bằng súng đạn mà bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh, bằng khát vọng vươn lên và bằng trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc.
ATK vẫn ở đó, Khau Tý vẫn bình yên dưới bóng rừng, Tỉn Keo vẫn lặng lẽ giữa đại ngàn, Khuôn Tát vẫn trong veo như thuở nào, Đồi Phong tướng vẫn sừng sững, kể cho các thế hệ mai sau câu chuyện về những con người đã dành trọn cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc. Những địa danh ấy không chỉ là di tích, đó là những trang sử sống.
Mỗi lần trở lại, chúng ta không chỉ được gặp lại quá khứ, mà còn được nhắc nhở về trách nhiệm của mình đối với tương lai. Hành trình về địa chỉ đỏ của trường THPT Bình Yên luôn được sự quan tâm của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trong nhà trường. Năm 2025, Đoàn trường THPT Bình Yên tổ chức kết nạp đoàn viên mới tại địa chỉ đỏ - Đồi phong tướng, xóm Tỉn Keo, xã Phú Đình nơi chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đại tướng Võ Nguyên Giáp. Góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi dưỡng lý tưởng, niềm tin và lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ; khẳng định vai trò, vị trí của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong việc tập hợp, rèn luyện, giáo dục thanh niên; đồng thời giới thiệu lớp đoàn viên mới với tinh thần tiên phong, xung kích, sẵn sàng tiếp nối truyền thống.
Đoàn trường THPT Bình Yên tổ chức kết nạp đoàn viên mới tại địa chỉ đỏ - Đồi phong tướng, xóm Tỉn Keo, xã Phú Đình.
Trong buổi lễ không có lễ đài lộng lẫy, không có tiếng trống chào mừng, chỉ có núi rừng ATK làm chứng cho sự trưởng thành của các em học sinh.
Tôi nhìn các em rồi hỏi:
“Theo các em, điều gì làm nên một vị tướng?”
Nhiều cánh tay giơ lên.
“Có tài chỉ huy.”
“Dũng cảm.”
“Biết đánh giặc.”
Tôi gật đầu rồi nói: “Tất cả đều đúng. Nhưng theo Bác Hồ, điều quan trọng hơn cả là trách nhiệm với Tổ quốc và tình thương đối với nhân dân, chiến sĩ. Quân hàm không phải là phần thưởng để tự hào. Quân hàm là lời nhắc nhở về trách nhiệm phải gánh vác.”
Buổi lễ diễn ra trong không gian linh thiêng của địa chỉ đỏ đã để lại ấn tượng sâu sắc, khơi dậy niềm tự hào, lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước. Đây không chỉ là một dấu mốc quan trọng trong hành trình rèn luyện, trưởng thành của các đoàn viên mới mà còn là nguồn động lực để các em phấn đấu hơn nữa trong học tập, tu dưỡng và cống hiến.
Điều đặc biệt ở ATK không chỉ là một địa điểm tham quan, đó còn là là một lớp học lịch sử đặc biệt, không có bảng đen, không có bục giảng, không có tiếng trống trường nhưng mỗi gốc cây, mỗi mái lán, mỗi con suối đều trở thành những “trang sách sống” kể chuyện về quá khứ giúp các em hiểu vì sao đất nước có được ngày hôm nay và mỗi người cần làm gì để góp phần xây dựng tương lai. Và lòng yêu nước không chỉ thể hiện bằng việc cầm súng ra trận mà lòng yêu nước bắt đầu từ những việc rất bình dị: Là học tập nghiêm túc, trung thực trong thi cử, là giữ gìn môi trường, là biết ơn những người đã hy sinh vì độc lập của dân tộc, là góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
ATK không chỉ thuộc về quá khứ, thuộc về hôm nay và sẽ còn thuộc về ngày mai. Bởi nơi đây không chỉ lưu giữ những dấu tích của một thời hoa lửa mà còn lưu giữ cội nguồn của lòng yêu nước, của ý chí độc lập và của khát vọng vươn lên – những giá trị sẽ mãi mãi đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trên con đường xây dựng một đất nước hòa bình, hùng cường và phát triển.
Lịch sử có thể khép lại một chặng đường, nhưng những giá trị mà lịch sử để lại sẽ còn mãi với thời gian. Và ATK tỉnh Thái Nguyên chính là một trong những nơi lưu giữ trọn vẹn những giá trị thiêng liêng ấy.



