bà Căn Do lớn lên giữa những năm tháng bom đạn, gian khó bủa vây bản làng
Sinh năm 1943, tại A Đeng – A Ngo, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của quê hương La Lay, bà Căn Do lớn lên giữa những năm tháng bom đạn, gian khó bủa vây bản làng. Từ rất sớm, bà đã thấm thía nỗi cơ cực của chiến tranh và nuôi trong lòng ý chí bền bỉ, sẵn sàng góp sức mình cho cách mạng.
Sinh năm 1943, tại A Đeng – A Ngo, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của quê hương La Lay, bà Căn Do lớn lên giữa những năm tháng bom đạn, gian khó bủa vây bản làng. Từ rất sớm, bà đã thấm thía nỗi cơ cực của chiến tranh và nuôi trong lòng ý chí bền bỉ, sẵn sàng góp sức mình cho cách mạng.
Năm 1957, bà nhập ngũ, tham gia công tác tại Trại Sản xuất Khu ủy, biên chế C19 – K200 – Quân khu 4. Công việc của bà gắn liền với sản xuất, tăng gia và bảo đảm hậu cần—những nhiệm vụ thầm lặng nhưng giữ vai trò then chốt để nuôi dưỡng lực lượng kháng chiến. Giữa mưa bom bão đạn, bà cùng đồng đội bám trụ nương rẫy, che chở cơ sở, bảo đảm lương thực, thực phẩm cho cán bộ, chiến sĩ nơi tuyến sau.
Suốt 13 năm cống hiến (1957–1976), bà đã gửi trọn tuổi thanh xuân trong thiếu thốn, hiểm nguy thường trực. Những mùa rẫy khắc nghiệt, những đêm sơ tán tránh bom, những bữa ăn đạm bạc… không làm bà chùn bước. Trái lại, sự nhẫn nại, chịu thương chịu khó và tinh thần trách nhiệm của người phụ nữ miền núi đã trở thành điểm tựa vững chắc cho tập thể nơi trại sản xuất.
Năm 1976, bà xuất ngũ, trở về bản làng A Đeng – A Ngo. Rời quân ngũ, bà tiếp tục sống giản dị, cần mẫn lao động, góp phần dựng xây quê hương trong những năm đầu hòa bình, làm gương cho con cháu về phẩm chất người phụ nữ cách mạng.
Câu chuyện thời hoa lửa của bà Căn Do là minh chứng cảm động cho sự hy sinh thầm lặng của phụ nữ trong kháng chiến, một ngọn lửa bền bỉ thắp sáng niềm tự hào của quê hương La Lay qua nhiều thế hệ.


