BA CHIẾN SĨ GANG THÉP
Buổi sáng ở Khu di tích Chiến thắng Ấp Bắc yên bình đến lạ. Những hàng dầu rì rào trong gió, những thảm cỏ xanh mướt ôm lấy tượng đài sừng sững giữa bầu trời Tiền Giang. Ít ai biết rằng, hơn sáu mươi năm trước, nơi đây từng là một biển lửa. Đất đã từng rung chuyển bởi bom đạn, khói súng và tiếng trực thăng gầm rú. Chính trên mảnh đất này, ba người chiến sĩ trẻ đã viết nên một bản anh hùng ca bất tử: Nguyễn Văn Đừng, Đỗ Văn Trạch (bí danh Công) và Hùng – những người được nhân dân trìu mến gọi là "Ba chiến sĩ gang thép".
BA CHIẾN SĨ GANG THÉP
Buổi sáng ở Khu di tích Chiến thắng Ấp Bắc yên bình đến lạ. Những hàng dầu rì rào trong gió, những thảm cỏ xanh mướt ôm lấy tượng đài sừng sững giữa bầu trời Tiền Giang. Ít ai biết rằng, hơn sáu mươi năm trước, nơi đây từng là một biển lửa. Đất đã từng rung chuyển bởi bom đạn, khói súng và tiếng trực thăng gầm rú. Chính trên mảnh đất này, ba người chiến sĩ trẻ đã viết nên một bản anh hùng ca bất tử: Nguyễn Văn Đừng, Đỗ Văn Trạch (bí danh Công) và Hùng – những người được nhân dân trìu mến gọi là "Ba chiến sĩ gang thép".
Cuối năm 1962, vùng đất Ấp Bắc bước vào những ngày căng thẳng. Địch liên tục càn quét, dồn dân lập ấp chiến lược với tham vọng xóa sạch lực lượng cách mạng. Tuy vậy, giữa những cánh đồng lúa bạt ngàn, những con rạch nhỏ ngoằn ngoèo và các vườn cây rậm rạp, cán bộ và du kích vẫn kiên cường bám trụ.
Tiểu đội của Nguyễn Văn Đừng được giao một nhiệm vụ đặc biệt: giữ vững trận địa, chặn bước tiến của quân địch, tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực cơ động chiến đấu.
Nguyễn Văn Đừng là Tiểu đội trưởng. Đồng đội nhớ về anh như một người ít nói nhưng cương nghị. Mỗi lần chuẩn bị bước vào trận đánh, anh đều bình tĩnh kiểm tra từng khẩu súng, từng băng đạn, nhắc nhở đồng đội giữ vững tinh thần.
Bên cạnh anh là Đỗ Văn Trạch, thường gọi là Công, một chiến sĩ gan dạ, nhanh nhẹn, luôn xung phong nhận phần khó nhất. Người còn lại là chiến sĩ Hùng, trẻ tuổi hơn nhưng nổi tiếng gan lì, chưa bao giờ chùn bước trước hiểm nguy. Ba con người, ba tính cách khác nhau, nhưng đều chung một lời thề: "Còn người, còn trận địa."
Rạng sáng ngày 2 tháng 1 năm 1963, màn sương vẫn còn phủ kín những cánh đồng Ấp Bắc thì từ phía xa đã vọng lại tiếng động cơ. Một chiếc…Rồi hai chiếc…Chỉ trong chốc lát, cả bầu trời đặc kín trực thăng và máy bay của quân đội Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy. Phía dưới, xe bọc thép M113 cùng bộ binh từ nhiều hướng đồng loạt tiến vào. Tiếng đại bác nổ dồn dập. Đất đá tung lên mù mịt. Nguyễn Văn Đừng bình tĩnh quan sát qua mép công sự. Anh khẽ nói: “Bình tĩnh! Chờ chúng vào thật gần.” Đỗ Văn Trạch siết chặt khẩu súng. Hùng lặng lẽ kiểm tra lại từng viên đạn cuối cùng. Ba người hiểu rất rõ. Trận chiến hôm nay sẽ vô cùng khốc liệt. Quân địch liên tục tràn lên. Từng loạt đạn từ công sự của ba chiến sĩ vang lên dứt khoát. Một tốp lính vừa lao qua bờ ruộng lập tức phải nằm rạp xuống. Một chiếc trực thăng hạ thấp độ cao để chi viện thì hỏa lực của quân giải phóng đồng loạt nhả đạn khiến nó phải vội vã bốc cao. Địch càng tiến gần, hỏa lực của ba chiến sĩ càng mạnh mẽ. Chúng không ngờ giữa cánh đồng nhỏ ấy lại có những người lính kiên cường đến vậy.
Suốt nhiều giờ liền, ba người thay nhau chiến đấu. Người bắn. Người tiếp đạn. Người quan sát. Không ai chịu rời vị trí. Bom nổ ngay trước công sự. Đất lấp gần kín miệng hầm.
Nguyễn Văn Đừng vừa phủi lớp đất vừa động viên đồng đội: “Anh em mình còn sống thì không để chúng vượt qua đây!”
Đỗ Văn Trạch cười lớn: “Có chết cũng phải giữ đất!”
Hùng gật đầu thật mạnh. “Quyết không lùi!”
Quân địch đổi nhiều đợt tấn công. Máy bay gầm rú trên đầu. Đạn đại liên xé nát những bụi cây. Khói thuốc súng phủ kín cả cánh đồng. Đạn trong công sự dần vơi. Ba người bắt đầu sử dụng từng viên một cách chính xác nhất. Mỗi phát súng đều nhằm đúng mục tiêu. Địch nhiều lần tưởng đã chiếm được trận địa, nhưng mỗi lần tiến lên đều bị đánh bật trở lại.Tinh thần chiến đấu kiên cường của ba chiến sĩ đã góp phần ghìm chân lực lượng đối phương, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn hoàn thành nhiệm vụ.
Chiều xuống. Cuộc chiến vẫn chưa dứt. Một quả đạn rơi rất gần công sự. Đất đá bắn tung tóe. Ba người đều bị thương. Máu thấm đỏ màu áo. Nhưng không ai rời tay súng. Nguyễn Văn Đừng nhìn đồng đội. Ánh mắt anh bình thản lạ thường. Anh nói nhỏ: “Nếu hôm nay mình không về… hãy để người sau biết rằng chúng ta đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.” Đỗ Văn Trạch mỉm cười. “Dân mình còn… đất mình còn.” Hùng siết chặt khẩu súng. Không ai nói thêm điều gì nữa. Tiếng súng vẫn tiếp tục vang lên. Cho đến những giây phút cuối cùng. Ba chiến sĩ đã anh dũng hy sinh ngay trên trận địa, giữ trọn lời thề của người lính giải phóng.
Chiến thắng Ấp Bắc ngày 2 tháng 1 năm 1963 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi. Quân và dân ta đã đánh bại một cuộc hành quân quy mô lớn của quân đội Sài Gòn có sự cố vấn và trang bị hiện đại của Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy xe bọc thép và làm thất bại chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận" mà đối phương kỳ vọng.
Trong bản anh hùng ca ấy, hình ảnh Ba chiến sĩ gang thép mãi mãi được người dân Nam Bộ khắc ghi như biểu tượng của lòng quả cảm, ý chí quyết chiến quyết thắng và tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Ngày nay, đến Khu di tích Chiến thắng Ấp Bắc, du khách vẫn dừng chân rất lâu trước nơi tưởng niệm ba người chiến sĩ ấy. Có những cựu chiến binh đứng lặng hồi lâu. Có những em học sinh chăm chú lắng nghe câu chuyện về ba người lính trẻ. Có người lặng lẽ đặt lên bàn thờ một bó hoa. Không ai bảo ai, tất cả đều cúi đầu tưởng nhớ. Bởi họ hiểu rằng, để có được bầu trời bình yên hôm nay, đã có biết bao người nằm lại tuổi đôi mươi.
Nguyễn Văn Đừng, Đỗ Văn Trạch và Hùng đã không trở về sau trận chiến năm ấy. Nhưng tên tuổi của họ vẫn sống mãi cùng chiến thắng Ấp Bắc, cùng những cánh đồng xanh của Tiền Giang và trong trái tim của bao thế hệ người Việt Nam. Ngọn lửa mà ba chiến sĩ gang thép đã thắp lên giữa khói lửa chiến tranh chưa bao giờ tắt. Đó là ngọn lửa của lòng yêu nước. Ngọn lửa của sự hy sinh. Và là ngọn lửa sẽ mãi soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau gìn giữ hòa bình, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp./.


