Khác

Ba lần chống xâm lược Mông - Nguyên

Thế kỷ XIII, dân tộc ta phải đương đầu với nạn xâm lăng cực kỳ nguy hiểm của đế quốc Mông - Nguyên, một đế quốc lớn và hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Trong vòng 30 năm (1258 - 1288), quân xâm lược Mông - Nguyên, ba lần tiến công xâm lược Đại Việt. Quân và dân Đại Việt đã kiên cường đứng lên kháng chiến chống xâm lược.

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
a) Cuộc kháng chiến lần thứ nhất (năm 1258)

Trong lúc nhân dân ta đang ra sức đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước thì ở phương Bắc, những đoàn quân viễn chinh khét tiếng tàn bạo của Thành Cát Tư Hãn và các vua chúa Mông cổ đang thực hành cuộc viễn chinh gây nhiều đau thương, tàn phá trên các lục địa Á - Âu và đe dọa nghiêm trọng nền độc lập và sống còn của dân tộc ta.


Năm 1257, đạo quân của Ngột Lương Hợp Thai từ Vân Nam được lệnh của chúa Mông Cổ là Mông Kha tiến xuống chiếm Đại Việt rồi từ đó vu hồi đánh Nam Tống.


Hốt Tất Liệt (em Mông Kha) sai sứ sang dụ vua Trần đầu hàng; nhưng đã bị vua Trần cho tống giam. Triều đình ra lệnh cả nước sắm sửa vũ khí, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến. Vua Trần Thái Tông chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu và thân chỉ huy 3 vạn quân lên lập chiến tuyến ở Bình Lệ Nguyên.


Đầu năm 1258, khoảng 3 vạn kỵ binh Mông cổ vượt biên giới tiến vào nước ta. Ngày 17-1-1258, chúng tiến xuống Bình Lệ Nguyên.


Sau một trận chiến đấu ác liệt, quân Trần "thất lợi". Theo mưu kế của Lê Tần (tức Lê Phụ Trần), quân ta rút về Phù Lỗ, phá cầu và lập chiến tuyến tiếp tục chặn địch. Dựa vào ưu thế binh lực, quân Mông Cổ tiến đánh rất mạnh, buộc vua Trần phải ra lệnh rút về Thăng Long và sau đó chủ động rời khỏi Thăng Long về Thiên Mạc (Khoái Châu).


Quân ta rút lui trên các mặt trận và phải rời bỏ cả kinh thành, nhưng triều đình, tướng sĩ và quân dân vẫn không hề nao núng. Lúc đó, Thái sư Trần Thủ Độ tâu với vua: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!".


Quân dân ta thực hiện kế "thanh dã" (vườn không, nhà trống) triệt để, nên mặc dù quân giặc chiếm được Thăng Long nhưng không tìm đâu ra một bóng người và lương thực. Sau chín ngày đêm, chúng tiến thoái lưỡng nan phải án binh bất động.


Ngày 29-1-1258, Vua Trần Thái Tông cùng các tướng lĩnh chỉ huy binh thuyền theo sông Hồng tiến về Thăng Long và lợi dụng đêm tối tập kích địch ở Đông Bộ Đầu. Bị đánh bất ngờ, quân Mông Cổ đại bại và tháo chạy; đến trại Quy Hóa, chúng bị Hà Bổng đón đánh. Ngột Lương Hợp Thai cùng tàn quân chạy về Vân Nam.


Cuộc kháng chiến đã giành được thắng lợi. Sử gọi đó là chiến công năm Nguyên Phong thứ 7 (1258) hay chiến thắng lần thứ nhất chống Mông - Nguyên.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1« Trả lời #53 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2021, 09:45:52 pm »
b) Cuộc kháng chiến lần thứ hai (năm 1285)

Sau khi thôn tính toàn Trung Quốc, Hốt Tất Liệt lên làm vua, lập nên triều Nguyên (1271 - 1368). Để lấy cớ phát động chiến tranh xâm lược Đại Việt, trong quan hệ ngoại giao, nhà Nguyên ngày càng lấn tới, đe dọa và đề ra nhiều yêu sách hết sức ngang ngược, như bắt vua Trần phải cung cấp lương thực, cho mượn đường đánh Chiêm Thành và thậm chí còn ép triều Trần phải đầu hàng.


Nguy cơ chiến tranh đến gần. Triều đình Trần cùng nhân dân cả nước khẩn trương chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến. Năm 1282, vua Trần tổ chức Hội nghị Bình Than, cùng các vương hầu, tướng lĩnh bàn kế đánh giặc. Sau đó tổ chức Hội nghị Diên Hồng (1285). Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội và ban bố Hịch tướng sĩ cổ vũ quyết tâm kháng chiến trong toàn quân. Nhiều cuộc tập trận và thao diễn quân đội đã diễn ra. Ngoài các đơn vị của lực lượng tại chỗ, các đơn vị quân chủ lực cũng được chia ra giữ các vùng, cả nước khẩn trương chuẩn bị đánh giặc.


Nắm được tình hình điều động binh tướng và kế hoạch tiến công trên nhiều hướng của quân Nguyên, triều đình nhà Trần, trong đó có Trần Quốc Tuấn ở cương vị Quốc công tiết chế (tổng chỉ huy quân đội) chủ trương tập trung lực lượng đánh tan đạo quân của địch trên hướng chủ yếu là hướng đông bắc và dùng một bộ phận lực lượng quân triều đình cùng quân địa phương chặn đánh địch trên hướng tây bắc và hướng nam. Mọi công tác chuẩn bị đều nhằm thực hiện thắng lợi ý đồ chiến lược đó. Trần Quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy quân đội trên hướng đông bắc; Trần Nhật Duật đảm nhận đánh địch ở hướng tây bắc; các quân ở các châu lộ Thanh Hóa, Nghệ An được lệnh chặn đánh quân địch từ hướng nam ra.


Đầu năm 1285, 60 vạn quân Nguyên từ phía đông bắc, tây bắc và nam tiến công nước ta. Từ phía bắc tiến xuống, quân Nguyên có hai đạo quân. Đạo chủ lực do Thoát Hoan chỉ huy đánh theo hướng Quảng Tây vào Lạng Sơn. Chúng tiến vào Lộc Bình, đánh các đồn biên giới của quân Trần ở Khâu Ôn, Khả Ly, Động Bản, Chi Lăng. Ngày 2-2, Thoát Hoan tiến công Nội Bàng. Trước thế giặc mạnh, Trần Quốc Tuấn lui về Vạn Kiếp. Ngày 11-2, Thoát Hoan tiến đánh Vạn Kiếp, Phả Lại và Bình Than. Sau trận Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn rút về giữ phòng tuyến sông Nhị Hà, sau đó rời khỏi Thăng Long về Trường Yên và Thiên Trường.


Đạo quân Nguyên thứ hai do Na Xi Rút Đin thống lĩnh từ Vân Nam vào sông Chảy. Trần Nhật Duật chặn đánh giặc ở Thu Vật (Yên Bái) rồi rút về Bạch Hạc. Sau đó lại lui về hội quân với triều đình ở hạ lưu sông Nhị Hà.


Từ phía nam, đạo quân do Toa Đô chỉ huy sau khi đánh Chiêm Thành, đã tiến ra Nghệ An1 (Vua Hốt Tất Liệt quyết định cho một đạo quân do Toa Đô chỉ huy tấn công Chiêm Thành trước, nhằm tạo chỗ đứng để hình thành thế tấn công vu hồi từ phía nam Đại Việt. Cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Chiêm Thành đã đánh bại đạo quân của Toa Đô, buộc chúng phải rút quân ra vùng bờ biển Quy Nhơn để chờ viện binh và đợi lệnh tấn công Đại Việt). Quân ta chiến đấu quyết liệt, nhưng không cản được bước tiến của địch. Một bộ phận quân Toa Đô ra Thanh Hóa. Trần Kiện hàng giặc. Trần Quang Khải được lệnh chỉ huy quân tăng cường chặn địch ở Thanh Hóa.


Quân địch tiến công mạnh trên cả hai mặt, từ bắc xuống, từ nam ra. Lúc cuộc chiến tranh đang gay go, ác liệt nhất, một số quý tộc, quan lại hèn nhát đầu hàng giặc. Tuy nhiên, cả triều đình và nhân dân Đại Việt vẫn kiên cường, quyết tâm kháng chiến và tin tưởng vào thắng lợi. Trần Quốc Tuấn nói với vua: "Bệ hạ muốn hàng hãy chém đầu tôi trước đã"; Trần Bình Trọng trả lời giặc: "Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc", v.v...


Trần Quốc Tuấn đã thực hành một cuộc rút lui, cơ động lực lượng, làm thất bại kế hoạch hợp vây của địch. Một số lực lượng theo đường biển tiến lên hoạt động ở vùng Đông Bắc, đại quân và triều đình rút về Thanh Hóa. Quân Nguyên vì thế mất đối tượng tác chiến. Trong cuộc truy đuổi, chúng không thực hiện được những đòn quyết chiến với chủ lực ta; trái lại, chúng gặp phải một cuộc chiến tranh mang đậm tính toàn dân, toàn diện của nhân dân Đại Việt.


Việc quân ta không thực hành các trận quyết chiến với quân địch ở các mặt trận như kế hoạch đã định đã đánh dấu sự thay đổi vê ý định chiến lược và phương thức tác chiến chiến lược của bộ thống soái Đại Việt. Từ đây trên chiến trường xuất hiện một hình thái mới, ta rút lui cơ động lực lượng, bảo toàn sinh lực, đồng thời phát động chiến tranh toàn dân, tiêu hao địch, tạo thời cơ để phản công tiêu diệt.


Thoát Hoan chia quân đóng giữ những vị trí quan trọng, lập trạm ngựa liên lạc với nhau. Nhưng càng rải quân ra chiếm đóng lâu dài, quân địch càng bị phân tán. Quân Trần kết hợp với dân binh tổ chức đánh nhỏ, đánh du kích khắp nơi. Quân Nguyên vừa bị tiêu hao mệt mỏi, lại gặp mùa hè đến, bệnh tật, ốm đau, lương thực thiếu thốn.


Như vậy, quân Nguyên sa vào tình trạng muốh đánh mà không được đánh; trái lại, càng ngày lực càng suy, thế càng yếu dần. Điều đó đã tạo ra thời cơ phản công cho quân ta.


Tháng 5-1285, Trần Quốc Tuấn ra lệnh phản công. Một loạt trận đánh diễn ra ở tuyến sông Nhị Hà như trận A Lỗ, trận Tây Kết - Hàm Tử, trận Chương Dương - Thăng Long, trận Trường Yên. Thoát Hoan thất bại liên tiếp phải rút chạy khỏi Thăng Long về Vạn Kiếp. Trần Quốc Tuấn chặn đánh ở Vạn Kiếp, tiêu diệt nhiều quân giặc. Thoát Hoan cùng tàn quân chạy về Lạng Sơn gặp phục binh ta chặn đường, Lý Hằng, Lý Quán đều bỏ mạng vì tên độc. Thoát Hoan may chui vào ống đồng để quân lính khiêng mới thoát thân.


Tàn quân Na Xi Rút Đin cũng tháo chạy về Vân Nam, trên đường chúng bị quân ta truy kích quyết liệt.

Toa Đô từ Thanh Hóa ra Trường Yên nhưng không hội quân được với Thoát Hoan. Ngày 24-6-1285, hai vua Trần và Trần Quang Khải đánh Toa Đô ở Tây Kết. Quân Nguyên đại bại, Toa Đô tử trận.


Cuối tháng 6-1285, toàn bộ quân xâm lược đã bị tiêu diệt và quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Cuộc kháng chiến vô cùng gay go, ác liệt, nhưng kết cục, dân tộc ta đã giành toàn thắng. Ngày 9-7-1285, vua Trần và triều đình trở về Thăng Long cùng cả nước ăn mừng thắng lợi.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 1« Trả lời #54 vào lúc: 05 Tháng Giêng, 2021, 09:47:55 pm »
c) Cuộc kháng chiến lần thứ ba (1287 - 1288)

Sau hai lần thất bại, Hốt Tất Liệt tức tối ra lệnh bãi bỏ kế hoạch xâm lược Nhật Bản, tập trung lực lượng xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khoảng gần nửa triệu bộ binh, kỵ binh và thủy binh được điều động. Khác với lần trước, lần này chúng sử dụng một lực lượng thủy binh mạnh và cả một đoàn thuyền lương. Thoát Hoan lại một lần nữa được giao quyền tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh, lập công chuộc tội.


Tháng 12-1287, quân Nguyên chia thành ba đạo theo ba hướng tiến đánh nước ta. Đạo Thoát Hoan từ Quảng Tây tiến theo Lạng Sơn, Vạn Kiếp - Thăng Long. Đạo do A Lỗ chỉ huy từ Vân Nam tiến xuống sông Nhị Hà. Đạo thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy, cùng đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ từ Khâm Châu tiến vào vùng biển Đông Bắc, ngược sông Bạch Đằng...


Trên hướng bộ, Trần Quốc Tuấn chủ trương vừa đánh chặn để kiềm chế và tiêu hao địch vừa tổ chức rút lui bảo toàn lực lượng. Thoát Hoan tiến đến Vạn Kiếp, để lại một bộ phận quân đóng giữ, số còn lại đuổi theo quân Trần. Tháng 2-1288, quân Nguyên vượt sông Nhị Hà tiến công Thăng Long. Triều đình và quân đội nhà Trần lại tạm thời rút khỏi kinh thành, lui về vùng hạ lưu.


Ở biển Đông, thủy binh ta do Trần Khánh Dư chỉ huy, chặn đánh ở một số nơi nhưng bị tổn thất, phải rút lui. Ô Mã Nhi chủ quan, chỉ huy đội chiến thuyền vượt lên trước, theo sông Bạch Đằng tiến nhanh về Vạn Kiếp để hội quân với Thoát Hoan, còn đoàn thuyền tải lương thì tiến sau. Trần Khánh Dư bố trí mai phục ở Vân Đồn, đón đánh, tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ.


Sau gần 1 tháng vừa chặn đánh vừa rút lui, một lần nữa quân ta rút khỏi Thăng Long. Đầu tháng 2-1288, ba cánh quân của địch tiến vào Thăng Long. Thoát Hoan huy động quân thủy, bộ đuổi theo quân ta, hy vọng bắt được vua Trần, nhưng bị mất mục tiêu. Chúng điên cuồng quật mồ mả Vua Trần Thái Tông, đốt phá làng mạc, tàn sát nhân dân.


Giặc Nguyên lâm vào tình trạng muốn đánh mà không được đánh, lương thực không có. Chiến lược đánh nhanh thắng nhanh bị phá sản, Thoát Hoan đành phải trở lại Thăng Long.


Nhân dân ta thực hiện "vườn không nhà trống", dân binh các làng xã có mặt ở khắp nơi phối hợp với quân đội không ngừng tập kích, phục kích địch. Thoát Hoan đứng trước nguy cơ bị bao vây và bị tiến công.


Sợ bị tiêu diệt như những lần trước, Thoát Hoan ra lệnh đốt phá kinh thành rồi rút về Vạn Kiếp. Tiếp đó, chia quân làm hai đạo theo hai đường thủy, bộ rút về nước; đúng như dự tính của Trần Quốc Tuấn.


Đầu tháng 4, đạo thủy quân của Ô Mã Nhi bắt đầu rút. Ngày 9-4-1288, toàn bộ đạo thủy quân có kỵ binh hộ tống đã lọt vào trận địa mai phục của Trần Quốc Tuấn và bị tiêu diệt trên sông nước Bạch Đằng. Các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ... đều bị bắt. Quân ta thu được hơn 400 chiến thuyền.


Cánh quân bộ của Thoát Hoan cũng bị đánh liên tiếp ở Hãm Sà, Nội Bàng, Nữ Nhi... và bị thất bại nặng. Xác giặc nằm rải rác trên đoạn đường gần trăm dặm. Thoát Hoan phải mở đường máu mới chạy thoát thân về Tư Minh.


Trải gần 5 tháng chiến đấu, quân dân Đại Việt đã chiến thắng. Sau thất bại này, nhà Nguyên không còn đủ sức đánh Đại Việt nữa. Chúng phải từ bỏ ý đồ tiến xuống phương Nam; mặc dầu "việc Nam chinh vẫn như ngứa ngáy trong tim của Hốt Tất Liệt" (Nguyên sử).


Như vậy, nước Đại Việt thời Trần (thế kỷ XIII) là một quốc gia dân tộc thống nhất, có chính trị ổn định, kinh tế phát triển và có nền văn hóa độc đáo mang bản sắc dân tộc. Trong vòng 30 năm, nhân dân Đại Việt ba lần liên tiếp phải đứng lên chống quân xâm lược tàn bạo và đã giành thắng lợi vẻ vang. Những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực xây dựng đất nước cùng với thực tiễn của công cuộc giữ nước, là cơ sở, tiền đề xuất hiện những tư tưởng quân sự, quốc phòng tiến bộ, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn