Bà mẹ anh hùng Lê Thị Năm: Chân dung sự hi sinh thầm lặng
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Năm là một biểu tượng cao đẹp cho sự hy sinh, kiên cường và lòng yêu nước vĩ đại của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến. Câu chuyện về cuộc đời má, từ những mất mát cá nhân đến nỗi đau mất đi ba người con trai ngay cả khi hòa bình vừa lập lại, luôn khiến thế hệ sau vô cùng xúc động và biết ơn.
Bà mẹ anh hùng Lê Thị Năm: Chân dung sự hy sinh thầm lặng
Ở mảnh đất Hưng Lộc (huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai), người ta chẳng ai là không biết câu chuyện về má Lê Thị Năm. Má sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo truyền thống. Cuộc đời má là một chuỗi những thử thách cay đắng của số phận. Năm 19 tuổi, cái tuổi đẹp nhất của người con gái, má lấy chồng với hy vọng về một mái ấm bình yên. Thế nhưng, hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, người chồng đầu ấp tay gối đột ngột qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo.
Một mình má, giữa cái nghèo đói và cơ cực, phải thắt lưng buộc bụng nuôi bốn đứa con thơ: Lê Văn Khuê, Lê Văn Khiêm, Lê Văn Khái và Lê Thị Mọ. Người ta bảo "một nách bốn con" đã khổ, má lại sống trong cảnh bần hàn, đói khát bủa vây. Vài năm sau, má đi thêm bước nữa với một cán bộ cách mạng. Được sự dìu dắt của chồng và các tổ chức địa phương, năm 1962, má chính thức tham gia hoạt động phong trào, trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến.
Nhà có bốn người con thì ba người con trai của má lần lượt nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ. Và cũng là ba lần má nhận về nỗi đau xé lòng.
Người con thứ hai, anh Lê Văn Khiêm, nhập ngũ năm 1965, là chiến sĩ Huyện đội Xuân Lộc. Trong một đêm tải gạo vào tháng 9/1967, anh bị giặc phục kích và dũng cảm hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, người em út là Lê Văn Khái nhìn tấm gương của anh trai, quyết tâm lên đường bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy Biên Hòa. Đầu năm 1972, chỉ đúng một ngày trước đám cưới của mình, khi đang làm nhiệm vụ, anh Khái đã lấy thân mình che đạn cho đoàn cán bộ và anh dũng nằm xuống.
Người con cả, anh Lê Văn Khuê, tiếp bước cha và các em, gia nhập lực lượng công an huyện Thống Nhất năm 1968. Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, má Năm cứ ngỡ từ đây gia đình sẽ được đoàn tụ. Nhưng nghiệt ngã thay, vào tháng 5/1975, trong lúc làm nhiệm vụ rà phá, thu gom chiến trường, anh Khuê vướng mìn và hy sinh. Ba người con trai nuôi nấng bấy lâu, nay chỉ còn là ba tấm bằng Tổ quốc ghi công.
Chiến tranh qua đi, má Năm ở lại với đời bằng đôi chân tật nguyền do năm tháng bão giông. Người dân Hưng Lộc đã quá quen với hình ảnh cứ mỗi độ xuân về, khi người người nhà nhà háo hức đón Tết, thì có một người mẹ già tóc bạc trắng, lặng lẽ lê đôi chân đau đớn đến nghĩa trang liệt sĩ huyện.
Má ngồi đó hàng giờ liền, tự tay nhổ từng cọng cỏ hoang, thắp nén nhang thơm, rồi ngồi bất động bên mộ các con. Trong không gian linh thiêng ấy, má thì thầm trò chuyện với những linh hồn trẻ tuổi như thể các anh vẫn còn sống, vẫn là những đứa con bé bỏng của má ngày nào.
Trước khi nhắm mắt xuôi tay, má Năm chẳng đòi hỏi nhà cao cửa rộng, cũng chẳng màng đến vinh hoa. Má chỉ để lại một nguyện vọng cuối cùng, giản đơn mà khiến ai nghe thấy cũng phải nghẹn ngào: “Khi tôi chết, chỉ xin nhà nước cho phép được chôn cất bên cạnh các con trong nghĩa trang liệt sĩ. Nếu được toại nguyện thì tôi không còn gì hối tiếc nữa”.
Ngày 17/12/1994, má Lê Thị Năm được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Má đã sống một cuộc đời trọn vẹn với non sông, và lời nguyện ước cuối cùng ấy chính là minh chứng cho tình mẫu tử thiêng liêng, bất tử vượt qua cả cái chết.



