Bà Ngô Thanh Hài
Bà Ngô Thanh Hài, sinh năm 1953, hiện là thương binh, bà từng là nữ quân y.
Ký Ức Hoa Lửa: Nữ Cứu Thương Kiên Cường Giữa Mưa Bom Bão Đạn
Từ Giao Liên Du Kích Đến Nữ Cứu Thương Gan Dạ
Năm 1968, khi chỉ mới mười tám đôi mươi, cô cùng bao thanh niên miền Nam mang trong mình lý tưởng độc lập đã viết đơn tình nguyện tòng quân. Khi ấy, cô tham gia phong trào giao liên, du kích, len lỏi trên từng tấc đất quê hương, đặc biệt là vùng Hòn Đất và chân núi Hòn Đất - Thạch Động (Nam Thái Sơn), nơi từng in đậm dấu chân của những anh hùng cách mạng. Thời đó, vùng này hoang vu vô cùng, không một bóng người sinh sống. Thế nhưng, đây lại là căn cứ địa cách mạng quan trọng. Cô, một người giao liên, ngày ngày bí mật làm nhiệm vụ đưa đường, dẫn lối, cảnh giới cho bộ đội chủ lực, trong điều kiện vô cùng kham khổ, có lúc đến cả cơm cũng không có để ăn.
Tháng 10 năm 1969, người anh trai của cô hy sinh anh dũng trên mặt trận. Nhìn thấy gia đình đơn chiếc và sự hy sinh mất mát quá lớn, đơn vị đã quyết định rút cô về hậu phương để tham gia vào đội ngũ quân y (cứu thương) của tỉnh Long Châu Hà. Kể từ đó, cô khoác lên mình chiếc áo blouse trắng lấm lem bùn đất và máu đỏ, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng: cứu chữa thương binh.
Chiến Đấu Nơi Trận Tuyến Y Tế
Công việc của một y tá chiến trường không hề đơn giản. Đó là những ngày tháng đối mặt với tử thần, cứu chữa thương binh ngay giữa làn bom đạn. Trong trận càn khốc liệt năm 1969, rất nhiều chiến sĩ của ta đã bị thương. Và cũng trong chính năm 1972, khi bom đạn kẻ thù trút xuống không thương tiếc, cô đã bị trúng hai mảnh đạn, để lại hai vết sẹo lớn trên cơ thể. Nhưng nỗi đau thể xác không làm chùn bước người con gái kiên cường ấy. Vết thương vừa lành, cô lại tiếp tục bám trụ cùng đồng đội, xông pha vào những nơi nguy hiểm nhất để cấp cứu thương binh. Những lúc không có thương binh, cô lại tham gia sản xuất, trồng lúa, trồng màu để có thêm lương thực nuôi quân.
Hy Sinh Thầm Lặng Và Nỗi Lòng Của Người Lính Trẻ
Năm 1974, khi những chiến thắng dồn dập báo hiệu ngày toàn thắng đang đến gần, cô cũng đón nhận tin vui giải phóng quê hương. Đến năm 1984, sau nhiều năm cống hiến quên mình, cô xin nghỉ hưu vì sức khỏe giảm sút và mẹ già cần người chăm sóc.
Nhìn lại những năm tháng đã qua, cô không khỏi bùi ngùi. Mẹ cô đã phải gánh chịu nỗi đau tột cùng khi mất đi cả chồng và những người con trong chiến tranh. Cả ba người thân yêu nhất của cô, cha và hai anh trai đều đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc. Những đồng đội ngày xưa, những người từng vào sinh ra tử cùng cô cũng đã lần lượt ra đi. Cô và người em gái Đặng Văn Phú là những người còn lại để lo hương khói, thờ cúng cho những người đã khuất.
Khúc Vĩ Thanh
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương trên cơ thể và nỗi đau trong lòng vẫn còn đó. Cô giờ đây đã tuổi cao sức yếu, những ngày trở trời vết thương cũ lại đau nhức. Hàng tháng, với đồng lương hưu ít ỏi, cô vẫn gắng gượng sống, vui vẻ với con cháu. Những kỷ niệm về những năm tháng chiến tranh hào hùng, về những đồng đội thân yêu vẫn luôn sống mãi trong lòng cô, như một ngọn lửa bất diệt.
Cô, người nữ giao liên, du kích và cứu thương năm xưa, chính là một minh chứng sống động cho tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và sự hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Họ là những bông hoa tươi thắm nhất, nở rộ trên mảnh đất kiên cường này.



