Bà Phan Thị Tập
Nhân dịp ngày nghỉ cuối tuần của những ngày cuối năm 2025, với niềm mong muốn được trực tiếp nghe những câu chuyện về một thời hoa lửa trong cuộc chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta mà chính người trong cuộc kể lại, chúng tôi rất may mắn được thầy Nguyễn Hải Nam giới thiệu đến gặp một cựu tù chính trị đã bước ra từ cuộc chiến chống Mỹ. Cụ tên là Phan Thị Tập, sinh năm 1940, thường trú tại thôn 1, xã Đăk Mar, tỉnh Quảng Ngãi. Khi mới vừa gặp cụ, ấn tượng với chúng tôi là dáng người gầy gò, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn của thời gian, mái tóc đã bạc. Nhưng ánh mắt rất sáng, dáng đi nhanh nhẹn và giọng nói rất trong và rõ ràng. Ít ai nghĩ rằng, đằng sau vẻ ngoài giản dị, nhỏ bé ấy lại là cả một cuộc đời từng đi qua chiến tranh khốc liệt, từng đối mặt với hiểm nguy và những đau thương, mất mát ở Thành cổ Quảng Trị năm xưa. Cụ đón tiếp chúng tôi với một nụ cười hiền từ, thái độ rất niềm nở và rất thân thiện.
Trong căn nhà nhỏ bé, chúng tôi bắt đầu nghe cụ kể câu chuyện của cụ đã trải qua trong thời chiến. Cụ sinh ra tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (theo địa danh cũ), tham gia cách mạng khi mới 18 tuổi. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, cụ tham gia cách mạng bằng những công việc thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng. Cụ làm nhiệm vụ truyền tin, tham gia gỡ kềm, nuôi giấu và bảo vệ cơ sở cách mạng ngay trong vùng địch kiểm soát. Dưới vỏ bọc của một người dân bình thường, cụ cùng với tổ chức đã góp phần phá kìm kẹp của kẻ thù, giữ cho ngọn lửa cách mạng luôn bùng cháy. Mỗi lần hoạt động cách mạng, mỗi lần truyền tin là một lần đối mặt với hiểm nguy, chẳng khác nào vào trong hang cọp. Nhưng cụ cùng những đồng chí của mình vẫn kiên cường bởi trong tim luôn cháy bỏng tình yêu nước, lòng căm thù giặc và truyền thống gia đình (gia đình cụ cũng đào hầm, nuôi giấu cán bộ cách mạng ngay trong nhà).
Không may, trong một lần hoạt động, cụ cùng một số đồng chí bị địch phát hiện, bắt giam ở Quảng Trị và sau đó bị đày ra Côn Đảo – nơi giam cầm khắc nghiệt những người yêu nước của ta. Tại đó, cụ phải chịu nhiều hình thức tra tấn tàn nhẫn của địch nhằm ép buộc khai ra bí mật của tổ chức. Cụ kể “chúng nó tra tấn bằng cách trộn nước xà phòng với ớt…, tạt thẳng vô mặt cụ cũng như những người bạn tù, cùng những hình thức dã man khác nhằm ép buộc khai báo. Nhưng không ai khai nửa lời, một lòng trung thành với cách mạng, quyết không phản bội tổ chức, không phản bội lý tưởng đã chọn”. Chính bản lĩnh kiên cường đã tạc nên vẻ đẹp lớn lao của một con người tưởng chừng rất đổi bình thường, nhỏ bé ấy. Khi chúng tôi hỏi “Cụ đã từng chứng kiến những người bạn tù hi sinh trong nhà giam không?”. Cụ trả lời, ánh mắt trĩu xuống và ngân ngấn lệ “Có chứ! Cụ đã chứng kiến 4 người bạn tù hi sinh ngay trước mắt mình”. Nhìn cụ trả lời, chúng tôi cũng cảm thấy nghẹn ngào.
Chiến tranh kết thúc, cụ được phía định trao trả tù binh tại chính quê hương Quảng Trị, mang theo những kí ức không thể xóa nhòa. Sau đó, cụ lập gia đình và chọn vào vùng đất Tây Nguyên để sinh sống cho đến ngày hôm nay. Giờ đây, trên gương mặt cụ là dấu vết của thời gian, của những mất mát rất khó có thể bù đắp. Nhưng trong ánh mắt ấy vẫn ánh lên niềm tự hào vì đã sống và cống hiến trọn vẹn tuổi xuân cho Tổ quốc. Cụ không kể nhiều về quá khứ, nhưng chính sự hiện diện của cụ đã là một bài học sống động về lòng yêu nước và sự hy sinh.
Hình ảnh bà cụ bước ra từ cuộc chiến không chỉ là câu chuyện riêng của một con người, mà còn là biểu tượng cho một thế hệ người dân Việt Nam đã âm thầm cống hiến, chịu đựng và hy sinh để đổi lấy hòa bình hôm nay. Chúng tôi chợt thấm thía câu hát trong ca khúc “Viết tiếp câu chuyện hòa bình”: “Cha ông ta ngày xưa ngã xuống. Để cho đời ta ngày sau đổi lấy hòa bình”. Chúng tôi càng thấm thía hơn nội dung bộ phim “Mưa đỏ” vừa được xem. Chia tay cụ trong sự lưu luyến khi cụ vừa nắm chặt tay chúng tôi, vừa hát những câu dân ca đậm chất miền Trung với một tinh thần lạc quan, yêu đời rất đáng khâm phục. Nhìn cụ, thế hệ trẻ chúng tôi càng thêm trân trọng cuộc sống, biết ơn quá khứ và tự nhắc mình phải sống có trách nhiệm, xứng đáng với những gì cha ông đã đánh đổi bằng cả tuổi xuân và xương máu để chúng tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. Chúng tôi nghĩ rằng, thế hệ trẻ chúng ta hãy cùng nhau “Viết tiếp câu chuyện hòa bình”!



