Cựu chiến binh

Ba tôi – Người thương binh đi ra từ khói lửa chiến tranh

Bài viết là lời tri ân đầy xúc động của người con dành cho ba mình – ông Nguyễn Văn Hữu, một người lính đã trải qua những năm tháng chiến đấu ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ việc vận động thanh niên Việt kiều tòng quân ở Campuchia, tham gia bảo vệ cơ quan cách mạng, ba ông đã nhiều lần tiến vào nội ô Sài Gòn trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ông nhiều lần bị thương nặng, từng bị địch bắt và được trao trả theo Hiệp định Paris năm 1973, sau đó tiếp tục tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh và ngày 30-4-1975 tiến vào Sài Gòn.Chiến tranh kết thúc, ông mang trên mình thương tật 81%, nhiều mảnh đạn và những vết thương suốt đời. Tuy vậy, ông luôn lạc quan, không than trách số phận và coi mình vẫn may mắn vì được sống, được chứng kiến đất nước hòa bình. Qua câu chuyện về người cha thương binh, bài viết thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho độc lập, đồng thời nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình.

TP. Hồ Chí Minh11/08/2026nguyễn hoài nam (Bảo Lâm 1)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ba tôi – Người thương binh đi ra từ khói lửa chiến tranh

Ông Nguyễn Văn Hữu, sinh tháng 5-1948, là một người lính đã đi qua gần như trọn vẹn những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tuổi trẻ của ông không có những ngày tháng bình yên mà gắn liền với chiến trường, bom đạn và những lần đối mặt với ranh giới giữa sự sống và cái chết.

Từ tháng 1-1964 đến tháng 11-1967, ông tham gia vận động thanh niên Việt kiều tòng quân đánh giặc tại huyện Peam Chor, tỉnh Prey Veng, Campuchia. Sau khi tổ chức bị lộ, ông thoát ly gia đình, tham gia Tiểu đoàn Vinh Quang, lực lượng An ninh vũ trang T4, đơn vị có nhiệm vụ đặc biệt bảo vệ các cơ quan đầu não cách mạng miền Nam.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ông cùng đồng đội ba lần tiến vào nội ô Sài Gòn. Đây là những trận chiến vô cùng ác liệt, khi người lính phải hành quân trong bom đạn, sống giữa chiến hào và luôn phải đối mặt với nguy hiểm.

Đầu tháng 5-1968, trong đợt tiến công thứ hai, ông bị trúng đạn gãy chân. Đồng đội thay nhau khiêng ông trên cáng võng đưa về căn cứ. Trên đường đi, địch phát hiện và bắn đại liên. Một viên đạn cắt đứt dây võng ngay sát đầu ông khiến phần đầu võng đổ xuống, làm đầu và lưng ông đập mạnh vào nền bê tông. Dù đau đớn, điều ông lo lắng nhất vẫn là đồng đội có thể hy sinh vì cứu mình.

Đến tháng 10-1971, ông được giao giữ chức Phó đại đội trưởng rồi Quyền đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 Long An. Tháng 6-1972, trong một trận đánh trên quê hương Long An, ông tiếp tục bị thương đặc biệt nặng: đạn xuyên qua người, thủng phổi, đứt bốn đoạn ruột và gãy xương đùi. Ông bất tỉnh giữa chiến trường và khi tỉnh lại mới biết mình đã rơi vào tay địch.

Tháng 3-1973, nhờ Hiệp định Paris, ông được trao trả. Trở về sau những năm tháng bị thương và tù đày, ông tiếp tục chiến đấu và công tác. Mùa Xuân năm 1975, ông thuộc Đại đội 54Q, Bộ Tổng Tham mưu, làm nhiệm vụ xét hỏi tù binh và cùng đơn vị tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 30-4-1975, ông tiến vào nội ô Sài Gòn, chứng kiến thời khắc miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Đối với gia đình, việc ông sống sót trở về chính là một chiến công vô cùng lớn lao, bởi nhờ đó những thế hệ con cháu sau này mới có được những ngày tháng bình yên và những bữa cơm sum họp.

Tuy nhiên, chiến tranh kết thúc không có nghĩa những đau thương cũng chấm dứt. Ông mang thương tật 81%, với những vết thương nghiêm trọng như gãy xương đùi, thủng phổi, đứt ruột và tổn thương cột sống do đạn đại liên. Nhiều mảnh đạn vẫn còn trong cơ thể, khiến ông thường xuyên phải chịu những cơn đau, nhất là khi thời tiết thay đổi.

Điều đáng quý là dù phải sống với thương tật suốt đời, ông chưa bao giờ than trách số phận. Ông luôn lạc quan và cho rằng mình may mắn hơn nhiều đồng đội đã nằm lại chiến trường, bởi ông còn được sống, được nhìn thấy đất nước hòa bình. Trong ký ức của ông, điều quan trọng nhất không phải những chiến công hay phần thưởng, mà là những người đồng đội đã cùng ông chia sẻ từng nắm cơm, ngụm nước và cùng nhau chiến đấu. Nhiều người trong số họ đã mãi mãi không trở về.

Ngày 30-4-2025, tròn 50 năm ngày đất nước thống nhất, ông được lãnh đạo TP Hồ Chí Minh mời tham dự lễ kỷ niệm. Trong bộ quân phục với những tấm huân chương đã nhuốm màu thời gian, người thương binh năm xưa xuất hiện giữa hàng nghìn người. Mái tóc đã bạc, bước chân chậm hơn, nhưng ánh mắt ông vẫn sáng. Với người con, khoảnh khắc ấy khiến ông không chỉ là người cha của gia đình mà còn là một phần của lịch sử dân tộc.

Nhân Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27-7, người con gửi đến cha lời tri ân sâu sắc. Đó không chỉ là lòng biết ơn đối với một người cha đã trở về từ chiến tranh, mà còn là sự biết ơn đối với cả thế hệ thương binh, liệt sĩ đã dùng tuổi trẻ, máu xương để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Câu chuyện về ông Nguyễn Văn Hữu là câu chuyện về một người lính bước ra khỏi khói lửa chiến tranh nhưng vẫn mang theo những dấu tích của chiến trường suốt cuộc đời. Những vết thương trên cơ thể ông trở thành chứng tích của một thời lịch sử, đồng thời nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, biết ơn những người đã hy sinh và sống xứng đáng với những gì thế hệ cha anh đã đánh đổi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn