Thân nhân liệt sĩ, người có công

BÀ TRIỆU – KHÍ PHÁCH NGƯỜI THIẾU NỮ TUỔI ĐÔI MƯƠI CƯỠI GIÓ ĐẠP SÓNG

Mùa xuân năm Mậu Thìn (248), thấy quan lại nhà Đông Ngô tàn ác, dân khổ sở, Bà Triệu bàn với anh việc khởi binh chống lại.

Ninh Bình31/10/2026Đoàn xã Xuân Sơn (Xã Xuân Sơn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

BÀ TRIỆU – TRIỆU THỊ TRINH

KHÍ PHÁCH NGƯỜI THIẾU NỮ TUỔI ĐÔI MƯƠI CƯỠI GIÓ ĐẠP SÓNG

Hai thế kỷ sau cuộc khởi nghĩa lẫy lừng của Hai Bà Trưng, mảnh đất phương Nam lại một lần nữa chìm dưới ách thống trị tàn bạo của phong kiến phương Bắc mà trực tiếp là nhà Đông Ngô thời Tam Quốc. Để phục vụ cho những cuộc chiến tranh tranh giành bá quyền liên miên ở Trung Nguyên, triều đình Đông Ngô biến Giao Châu và Cửu Chân thành nơi vơ vét tài nguyên không đáy. Quan lại đô hộ từ thứ sử đến huyện lệnh đều mặc sức cướp đoạt ruộng đất, bắt hàng vạn dân đinh lên rừng đẵn gỗ quý, xuống biển sâu mò trai ngọc dưới sự giám sát bằng roi vọt đẫm máu. Giữa vùng đất Cửu Chân đầy nắng gió và bão táp (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa), tại miền núi Quan Yên hiểm trở, một người con gái mang chí khí phi thường đã xuất hiện để thắp lại ngọn lửa tự do: Triệu Thị Trinh, người được dân gian tôn kính gọi là Bà Triệu.

Sinh năm 226 trong một gia đình hào trưởng có truyền thống thượng võ tại vùng núi Quan Yên (Yên Định, Thanh Hóa), Triệu Thị Trinh cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi còn nhỏ. Sống dưới mái nhà của người anh trai và sự hà khắc, hẹp hòi của người chị dâu vốn cam chịu phận nô lệ cho quan quân nhà Ngô, cô gái trẻ không hề bị khuất phục bởi hoàn cảnh. Khác hẳn với những thiếu nữ cùng trang lứa thường khép mình bên khung cửi, Triệu Thị Trinh có vóc dáng cao lớn khỏe mạnh, tiếng nói vang như chuông đồng, đôi mắt sáng quắc và sức lực hơn người. Ban ngày nàng lên rừng tập bắn cung, múa kiếm, ban đêm lại chong đèn đàm đạo việc nước cùng anh trai và những nghĩa sĩ tâm huyết trong vùng.

Tương truyền vào năm mười chín tuổi, có một con voi trắng một ngà vô cùng hung dữ thường xuyên từ rừng sâu lao xuống phá phách mùa màng, giẫm nát nhà cửa của dân lành quanh vùng Quan Yên mà không một thợ săn nào dám đương đầu. Không chút nao núng, Triệu Thị Trinh một mình cầm gươm lội qua suối sâu đón đầu con thú dữ, khéo léo nhảy vọt lên đầu voi, dùng sức mạnh và lòng quả cảm khuất phục hoàn toàn con vật hung hãn. Từ đó, con voi trắng một ngà trở thành người bạn chiến đấu trung thành, gắn liền với hình ảnh lẫm liệt của vị nữ tướng trên khắp các chiến trường.

Khi Triệu Thị Trinh bước sang tuổi hai mươi, thấy em gái ngày đêm tụ tập trai tráng luyện võ và bàn chuyện chống lại triều đình Đông Ngô, nhiều người họ hàng lo sợ tai họa ập xuống gia tộc nên đã hết lời khuyên nàng hãy từ bỏ ý định khởi nghĩa, sớm tìm một tấm chồng门 đăng hộ đối để yên bề gia thất như bao người phụ nữ khác. Trước những lời khuyên can đầy tính toán an phận ấy, người thiếu nữ tuổi đôi mươi đã ngẩng cao đầu, nhìn về phía biển Đông dậy sóng và cất lên câu nói bất hủ làm chấn động tâm thức bao thế hệ người Việt: "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người!" Câu nói ấy không chỉ là lời tuyên bố về lý tưởng sống của một cá nhân mà còn là biểu tượng rực rỡ nhất cho khát vọng độc lập dân tộc vượt lên trên mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến.

Để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy quy mô lớn, Triệu Thị Trinh đã dứt khoát rời bỏ gia đình, vượt sông Chu sang vùng núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa) lập căn cứ bí mật. Nơi rừng thiêng nước độc với địa thế hiểm yếu ba bề vách đá dựng đứng đã trở thành đại bản营 quy tụ hàng ngàn nghĩa sĩ từ khắp Cửu Chân, Giao Chỉ tìm về đầu quân. Cùng với sự hỗ trợ của anh trai Triệu Quốc Đạt ở vùng đồng bằng và ba anh em họ Lý giỏi nghề rèn vũ khí, làm thuốc chữa thương, nghĩa quân ngày đêm tích trữ lương thảo, đúc gươm giáo, huấn luyện đội tượng binh hùng mạnh.

Đầu năm 248, khi thời cơ chín muồi và sự tàn bạo của quan lại Đông Ngô đã vượt quá sức chịu đựng của nhân dân, cuộc khởi nghĩa chính thức bùng nổ. Ngay trong những trận đầu tiên, nghĩa quân từ núi Nưa tràn xuống đánh chiếm các huyện lỵ, tiêu diệt đồn bốt giặc tại Tư Phố. Không lâu sau đó, người anh trai Triệu Quốc Đạt không may lâm bệnh nặng qua đời giữa lúc cuộc chiến đang vào giai đoạn quyết liệt. Toàn thể tướng sĩ vì cảm phục tài năng và uy đức của Triệu Thị Trinh đã đồng lòng suy tôn bà làm chủ tướng tối cao, xưng là Nhụy Kiều Tướng quân.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bà Triệu, cuộc khởi nghĩa phát triển thành một cơn bão táp quét sạch chính quyền đô hộ trên toàn quận Cửu Chân và lan rộng ra khắp Giao Châu. Mỗi khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng rực rỡ, cài trâm vàng, đi guốc ngà, ngồi uy nghi trên đầu con voi trắng một ngà dẫn quân xông thẳng vào trận tuyến đối phương. Sức mạnh và uy thế của nữ tướng trẻ tuổi khiến quân lính Đông Ngô kinh hồn bạt vía, truyền tai nhau câu hát đầy sợ hãi rằng vung giáo đánh hổ còn dễ hơn việc đối mặt với Vua Bà trên núi Lệ Hải. Thứ sử Giao Châu của nhà Ngô hoàn toàn bất lực, phải liên tục gửi thư cấp báo về kinh đô Kiến Nghiệp cầu cứu.

Trước nguy cơ mất toàn bộ lãnh thổ phương Nam, vua Ngô Tôn Quyền buộc phải phái danh tướng lão luyện Lục Dận làm Thứ sử Giao Châu kiêm An Nam Hiệu úy, thống lĩnh tám ngàn quân tinh nhuệ sang đàn áp. Tại căn cứ Bồ Điền (Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa), Bà Triệu đã chỉ huy nghĩa quân chiến đấu kiên cường suốt nhiều tháng ròng, đẩy lùi hàng chục đợt tấn công kết hợp cả mua chuộc, chia rẽ của Lục Dận. Cuối cùng, khi vòng vây của kẻ thù ngày càng siết chặt và lực lượng nghĩa quân cạn kiệt tại núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh Hóa), để không rơi vào tay giặc, người nữ anh hùng ở tuổi hai mươi ba đã tuốt gươm tự vẫn trên đỉnh núi Tùng, hóa thân vào mây trời đất Việt và để lại một tượng đài bất tử về khí phách tuổi trẻ Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn