Bà Trương Thị Tám
Tôi ngồi đây, bên hiên nhà ở thôn Bắc Châu, nhìn ra mảnh vườn đã phủ màu thời gian, đôi khi cứ ngỡ những tiếng súng, tiếng bom mới chỉ vừa dứt hôm qua thôi. Tôi là Trương Thị Tám, người mà bà con lối xóm vẫn hay gọi thân thương là "cô Tám", hay oai hùng hơn chút nữa là "cô gái Bãi Sậy". Năm nay tôi đã ngoài 90, cái tuổi xưa nay hiếm, mái tóc đã bạc trắng như cước, da đã mồi, nhưng ký ức về những ngày tháng thanh xuân "nếm mật nằm gai" đánh giặc thì chưa bao giờ phai nhạt trong tâm trí tôi. Ngược dòng thời gian về những năm 50 của thế kỷ trước, quê hương Khoái Châu, Hưng Yên của tôi khi ấy tang thương lắm. Giặc Pháp đóng bốt dày đặc, chúng càn quét, cướp bóc, dân lành không ngày nào được yên ổn. Là con dân đất Việt, mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, tôi và những chị em trong thôn không thể cam chịu kiếp nô lệ. Ở cái tuổi đôi mươi tràn trề nhựa sống, tôi tham gia cách mạng, trở thành Đội phó đội du kích Hoàng Ngân. Chúng tôi, những cô gái chân yếu tay mềm, đã thề với đất mẹ sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Có lẽ câu chuyện mà đời sau nhắc đến tôi nhiều nhất chính là trận đánh bốt Phương Trù vào tháng 6 năm 1953. Chắc các cháu khó mà tin được, vũ khí của chúng tôi ngày ấy chẳng phải súng đạn tối tân gì đâu, mà chỉ là những chiếc đòn gánh tre thân thuộc. Hôm ấy, nắm được quy luật lính Tây thường lơ là cảnh giác với phụ nữ đi chợ, tôi bàn với chị em dùng kế "hóa trang độn quân". Chúng tôi giả làm những cô thôn nữ gánh gồng bán rau, bán chuối, nhưng dưới những mớ rau xanh ấy là những chiếc đòn gánh đã được chọn lựa kỹ càng, vót nhọn hoặc gia cố chắc nịch. Khi đi ngang qua tốp lính đang canh gác trên đê, tim tôi đập thình thịch nhưng mặt vẫn cố giữ vẻ bình thản. Chờ đúng thời cơ chúng sơ hở nhất, tôi hét lớn ám hiệu "Xung phong!". Tiếng hô vừa dứt, những chiếc đòn gánh trên vai lập tức biến thành vũ khí. Tôi lao thẳng vào tên lính to cao nhất, dùng hết sức bình sinh quật ngã hắn. Trong lúc vật lộn sinh tử, hắn hung hăng cắn vào tay tôi đến bật máu, đau điếng người, nhưng tôi quyết không buông, ghì chặt hắn xuống đất để đồng đội tước vũ khí. Cả trận đánh diễn ra chớp nhoáng, chúng tôi đã thắng giòn giã, thu được súng đạn mà không tốn một viên đạn nào của ta. Cái tên "đòn gánh đánh Tây" ra đời từ đó, khiến quân giặc mỗi khi nghe đến đội nữ du kích Hoàng Ngân đều phải kinh hồn bạt vía. Nhưng cuộc đời người lính đâu chỉ có vinh quang chiến trận, mà còn là những nốt lặng đầy nước mắt của sự hy sinh. Chồng tôi, ông Đỗ Trọng Hội, cũng là một người lính vệ quốc. Chúng tôi thương nhau, nên duyên vợ chồng giữa thời loạn lạc, hạnh phúc chưa tày gang thì ông đã phải lên đường ra mặt trận. Ngày ông hy sinh, tin dữ bay về như sét đánh ngang tai. Tôi chết lặng, nước mắt nuốt ngược vào trong. Nỗi đau mất chồng, cảnh góa bụa khi tuổi còn xuân xanh tưởng chừng quật ngã tôi. Nhưng nhìn các con thơ dại, nghĩ đến mối thù nước chưa trả xong, tôi lại gạt nước mắt đứng lên, vừa làm cha, vừa làm mẹ, vừa tiếp tục cầm súng chiến đấu. Tôi biến đau thương thành hành động, sống xứng đáng với sự hy sinh của ông ấy. Trong cuộc đời mình, niềm vinh dự lớn nhất mà tôi may mắn có được là 6 lần được gặp Bác Hồ. Mỗi lần gặp Bác là một lần tôi được tiếp thêm sức mạnh. Bác giản dị, hiền từ lắm, Bác dặn dò tôi và anh em đồng chí phải luôn "Trung với nước, hiếu với dân", phải giữ gìn phẩm chất của người cách mạng. Lời Bác dạy đã trở thành kim chỉ nam cho tôi suốt cả cuộc đời, từ lúc còn cầm súng cho đến khi trở về với cuộc sống đời thường. Giờ đây, đất nước đã hòa bình, quê hương Hưng Yên đang thay da đổi thịt từng ngày. Sống trong ngôi nhà ấm áp tình làng nghĩa xóm, được nhìn thấy con cháu trưởng thành, được các đoàn thanh niên đến thăm hỏi, nghe tôi kể chuyện ngày xưa, tôi thấy lòng mình thanh thản lạ. Tôi kể lại chuyện xưa không phải để khoe khoang chiến công, mà để các cháu hiểu rằng: Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương và nước mắt của bao thế hệ cha anh.



