Bài viết

Bắc Bến Đá và nghệ thuật "đánh bên sườn, phía sau"

Căn cứ Bắc Bến Đá thuộc tỉnh Kô Kông, nằm trên trục đường biên giới Cam-pu-chia và Thái Lan. Đây là một trong những căn cứ của Sư đoàn bộ binh 164 Pôn Pốt được tổ chức, xây dựng từ sau năm 1979...

Hà Tĩnh12/04/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Căn cứ Bắc Bến Đá thuộc tỉnh Kô Kông, nằm trên trục đường biên giới Cam-pu-chia và Thái Lan. Đây là một trong những căn cứ của Sư đoàn bộ binh 164 Pôn Pốt được tổ chức, xây dựng từ sau năm 1979. Địch thường xuyên sử dụng căn cứ này để tiếp nhận quân lính, vật chất, vũ khí từ Thái Lan vào nội địa Cam-pu-chia. Cũng từ đây, địch tung lực lượng đi phục kích, đánh phá giao thông, nhất là tuyến hành lang dọc đường biên của ta và bạn. Trước tình hình này, Bộ tư lệnh Mặt trận 979 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 4 tiến công tiêu diệt căn cứ và đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ bằng nghệ thuật “đánh bên sườn, phía sau”.

Trung tướng Huỳnh Tiền Phong. Ảnh: Kiên Giang.

Sau 3 năm học ở Đà Lạt, tôi được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 20 (Sư đoàn 4), với quân hàm Trung tá. Trước đó vài tháng, tôi đã tổ chức nhiều mũi nhỏ lẻ đánh vào sở chỉ huy Sư đoàn 18 của địch đóng ở Kam-pốt Tô-đắc-bông, tiêu diệt hơn 100 tên. Còn Sư đoàn bộ binh 164 Pôn Pốt thì có ý đồ đánh chiếm lại thị xã Kô Kông nên chúng cho xe ủi bí mật làm đường từ biên giới giáp Thái Lan lên Kô Kông dài khoảng 40km, lập căn cứ Bắc Bến Đá, dùng ĐKZ bắn vào Sở chỉ huy Sư đoàn 4. Khi đó, tôi được lệnh của quân khu và Sư đoàn 4 điều Trung đoàn 20 về để giải vây, bởi đơn vị tôi có kinh nghiệm luồn sâu với sở trường đánh độc lập, đánh phá phía sau địch.

Khu vực Bắc Bến Đá phần lớn là rừng già nguyên thủy, chưa từng được khai thác với nhiều núi cao, rừng rậm trùng điệp tạo thành thế liên hoàn dọc theo bờ đông và tây sông Mê-tưk chạy dài sang đất Thái Lan. Đây là con sông lớn, mặt sông rộng. Mùa mưa, nước sông chảy xiết; mùa khô cũng chỉ có thể vượt qua sông ở từng đoạn, lòng sông nhiều đá và đất cứng, khi nước cạn, xe cơ giới và xe kéo pháo có thể qua sông. Trong khi đó, đường sá chủ yếu là đường mòn nhưng rất ít, lại có nhiều suối sâu với những vách đá dựng đứng dọc hai bờ sông. Chính vì vậy đã tạo thế thuận lợi cho địch tổ chức xây dựng căn cứ bí mật. Khi ta tiến công sẽ gặp nhiều khó khăn trong cơ động lực lượng và vận chuyển binh khí kỹ thuật; không phát huy được hiệu quả bắn thẳng của hỏa lực; tầm quan sát hạn chế, khó xác định phương hướng, nhất là vào ban đêm; thông tin liên lạc bằng vô tuyến và điện thoại hạn chế; việc bảo đảm cơ động cho xe, pháo tốn nhiều thời gian và sức lực… Ngược lại, việc giấu quân lại bảo đảm bí mật, an toàn, cơ động ban ngày địch cũng khó phát hiện, tạo điều kiện cho ta tiếp cận gần mà chúng không hay biết.

Trong quá trình nghiên cứu, trinh sát địa hình, ta thấy căn cứ này được tổ chức theo dạng trú quân, chủ yếu dựa vào địa hình, địa vật có lợi cho phòng ngự, thuận tiện trong sinh hoạt và tăng gia sản xuất nên lực lượng địch được bố trí phân tán trên diện rộng. Chúng coi đây là “miền đất thánh” nên công sự đơn giản, đa số làm hình chữ U, cách nhau 200-300m, tạo thành từng tuyến trên các sườn núi, còn lại địch dựa vào bờ sông, bờ suối phía đối diện với ta làm trận địa chiến đấu. Ban đầu, chúng tôi xác định: Đánh Pôn Pốt đã nhiều lần nhưng nếu đánh hướng chính diện rất khó thắng bởi khi chúng phòng ngự thì tổ chức gài mìn dày đặc, ta sẽ bị thương vong nhiều. Sau nhiều lần bàn bạc, tôi vận dụng kinh nghiệm từ những năm tháng ở đơn vị đặc công, nghĩa là đánh thọc bên sườn và phía sau.

Trung đoàn 20 do tôi chỉ huy được phối thuộc Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn Bộ binh 91 (Quân Giải phóng Cam-pu-chia), Đại đội Trinh sát 2 của sư đoàn, 1 cơ cấu A72 sẽ đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu của sư đoàn, chiếm lĩnh trận địa bờ đông sông Mê-tưk và thực hành vượt sông tiến công từ hướng bắc điểm cao 172A, tiêu diệt địch trong khu vực này. Đồng thời, tổ chức một lực lượng đánh tiêu diệt địch tại Cao điểm 322, bảo đảm sườn trái đội hình tiến công của trung đoàn và sườn phải đội hình tiến công của Trung đoàn 30 (Sư đoàn 4). Mặt khác, sử dụng một tiểu đoàn đánh thẳng về hướng tây, cắt đường biên giới và làm nhiệm vụ ngăn chặn địch từ Cao điểm 336 tới chi viện cho chúng.

Dựa vào chiến lệ “Diễn biến tiến công căn cứ Bắc Bến Đá của Sư đoàn 4”, Mặt trận 719 đã tổng kết và được Cục Huấn luyện Chiến đấu - Bộ Tổng tham mưu phổ biến rộng rãi.

Ba ngày đêm hành quân luồn rừng, lội suối, có lần đơn vị tôi bị địch từ Cao điểm 309 dùng xung lực và hỏa lực đánh ra hành lang cơ động, phải dời bỏ con đường đã chuẩn bị sẵn, cắt đường mới trong điều kiện bộ đội mang vác nặng, rừng rậm, núi cao và khí hậu thời tiết khắc nghiệt. Đến Cao điểm 322, tôi ngó xuống thấy một khu rừng thấp nhấp nhô, với hơn một trăm chỗ ngọn cây có từng cụm khói bay lên. Tôi đoán chắc bọn chúng đang nấu cơm chiều và quân số khá đông nhưng chưa xác định được đâu là sở chỉ huy. Đêm đó, lợi dụng trời tối, chúng tôi đưa Tiểu đoàn 5, 6 qua sông Mê-tưk chảy như thác đổ, riêng Tiểu đoàn 4 dự bị ở lại. Sau đó, cho bộ đội áp sát các chốt của Sư đoàn 164, cách từ 50-100m, dài hàng ki-lô-mét. Sáng sớm, tôi gặp đồng chí Tư lệnh Mặt trận 979 Nguyễn Đệ, đồng chí Sư đoàn trưởng Sư đoàn 4 Lê Xã Hội xin ý kiến và chấp thuận cho tiểu đoàn ở đầu đội hình cách 7km nổ súng. Liền sau đó, tiểu đoàn bị đánh dạt ra. Đến khoảng 9 giờ, tôi cho 4 khẩu pháo 105mm của Trung đoàn Pháo binh 4 phối thuộc, quay về hướng sở chỉ huy, đồng thời lệnh cho các đơn vị đồng loạt nổ súng.

Bấy giờ mới biết đây chính là sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh 164 Pôn Pốt. Vì là rừng núi, cây cối um tùm nên cứ đánh giằng co quyết liệt hơn 3 giờ. Đột nhiên, tôi nghe tiếng nổ long trời lở đất ở khu vực nhà kho của chúng. Người tôi rung rinh, chao đảo; cột khói bốc cao bao trùm một khoảng không rộng chừng 2km. Lúc đó, ta đã làm chủ trận địa. Theo thống kê, trận thắng này ta đã làm tan rã hoàn toàn Sư đoàn bộ binh 164, tiêu diệt hơn 200 tên, số bị thương và còn lại chạy về Thái Lan. Ta thu gần 400 súng, pháo các loại, đạn dược khoảng 350 tấn. Không biết quân số chúng bao nhiêu nhưng ở khu sư đoàn bộ, ta thu gần 2.000 ba lô có đầy đủ quần áo, tất cả đều mới. Như vậy, có thể ước tính được chúng có hơn 2.000 quân. Mặt khác, chiến trường lúc bấy giờ rất khan hiếm về lương thực. Song kho của địch chứa gần 350 tấn gạo. Rõ ràng, địa bàn này chúng rất am tường và có mưu đồ nên đã mở đường vận chuyển gạo từ Thái Lan về để dự trữ.

Trận đánh căn cứ Bắc Bến Đá kết thúc lúc 13 giờ 30 phút, đúng ngày kỷ niệm 40 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12-1984, mang ý nghĩa đặc biệt to lớn: Phá tan, chiếm giữ một căn cứ cấp sư đoàn bộ binh của địch được xây dựng từ lâu nay trên đường biên giới Thái Lan - Cam-pu-chia mà chưa có lực lượng nào của ta tiến công. Đồng thời, làm thất bại âm mưu cơ bản của địch dùng căn cứ này làm bàn đạp để đưa lực lượng luồn vào nội địa đánh phá. Đặc biệt, qua trận đánh này, toàn Sư đoàn 4 đã được nâng lên một bước cả về trình độ tổ chức và thực hành chỉ huy chiến đấu của cán bộ các cấp và trình độ kỹ thuật của bộ đội, nhất là trình độ chiến đấu hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh làm cơ sở thực tiễn phong phú cho những trận đánh sau giành thắng lợi lớn hơn.

Tôi tranh thủ về báo cáo trận đánh với Bộ Quốc phòng tại Phnôm Pênh. Kể từ đó, chiến thuật của ta có sự thay đổi, nhất là phổ biến trong các học viện, nhà trường. Đó là dùng nghệ thuật “đánh bên sườn, phía sau”, thực hiện bao vây chia cắt. Và trận đánh căn cứ Bắc Bến Đá là mẫu mực mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn