Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

BÁC HỒ CỦA CHÚNG TA

An Giang09/08/2026Chi đoàn Trường Tiểu học Trần Quốc Toản ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bác Hồ của chúng ta là con người sống nhất, con người như chạm khắc vào thời gian; Bác đến đâu, nơi ấy sống lên, mọi nghi lễ không làm cho Bác chủ động, mà tự Bác chủ động, đối với Bác, không nghi thức nào quan trọng cho bằng sự giao cảm giữa Bác với nhân dân mến yêu; điển hình là câu nói bất hủ trong ngày đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945): “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”, sự ấy là quan trọng nhất.

Tôi không khoe những khi tôi được thấy Bác, gặp Bác, nhưng có qua bản thân mới nói được cụ thể ấn tượng Bác lưu giữ trong mỗi người chúng ta. Sau ngày 2/9/1945 cùng với mấy chục vạn người thấy Bác xa xa ở trên lễ đài tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, lần đầu tiên tôi được đứng gần Bác là hôm Bác đến khai mạc Phòng tranh ở nhà Khai trí Tiến Đức cũ (lúc này đã thành trụ sở Hội Văn hóa cứu quốc, nay là Câu lạc bộ Thống Nhất) mở đầu cho “Tuần lễ Văn hóa ủng hộ kháng chiến Nam Bộ”. Mắt Bác sáng và thẳng lạ thường, có thể nói người nào vạy trong lòng thì không dám nhìn vào mắt Bác. Miệng Bác cười thiếu một chiếc răng; 15 năm sau, đọc Nhật ký trong tù, thấy Bác nói “Răng rụng mất một chiếc” và Bác làm thơ tiễn biệt cái răng thì tôi mới hiểu vì lý do gì. Do mắt Bác sáng quắc, nên trong bức ảnh anh Nguyễn Năng An chụp Bác, được in thành bưu ảnh bán phổ biến mọi nơi, người ta thấy trong đôi mắt Bác có bốn chấm sáng, bởi vậy mà đồng bào có nhiều người truyền nhau mắt Bác có bốn con ngươi. Trong tấm bưu ảnh ấy, đôi mắt Bác vừa hiền từ, vừa rất cương quyết.

Đón cái tết đầu tiên của đất nước độc lập, tôi được cùng một số vị đại biểu vào Bắc Bộ phủ chúc tết Bác. Trong đoàn, mấy anh cán bộ còn trẻ dám đùa, còn tôi thì tôi rất ngượng ngập. Mặc dù biết là trước đây Bác ở chiến khu, các anh ấy cứ gạn hỏi Bác: “Thưa Bác, những năm trước Bác ăn tết ở đâu?”. Bác trả lời: “Ăn tết ở mồm”. Thế là các đồng chí trẻ chịu!

Ôi! Những ngày tháng và kỷ niệm lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữa nhân dân, có cái gì rất mực mê say và thắm thiết. Khi Bác đứng trên bao lơn Nhà hát Lớn, thì đồng bào hô vang “Muôn năm” đến khản cả cổ, nhiều người nhảy cẫng lên, nhiều người tung cao mũ của mình. Hôm tổ chức lễ mít tinh để các đại biểu Quốc hội khóa I của Hà Nội ra mắt những người đã bầu mình ở khu Việt Nam học xá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đại biểu Thủ đô cũng mặt. Bác rời ghế ngồi của mình hòa vào giữa đồng bào; hôm ấy mọi người cuốn đi theo mỗi bước chân của Bác, người ta tiến sát gần Bác, đến nỗi giẫm vào đôi dép cao su của Bác. Bác bị trật dép; hình ảnh Bác hồn nhiên bị tràn ngập “bâu xâu” bởi đồng bào yêu thương của mình năm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thứ nhất, tôi nhớ mãi cho đến bây giờ. Thật là một mối tình kỳ lạ!

Trong kháng chiến chống Pháp, ở căn cứ địa Trung ương, sâu giữa rừng thẳm, đèo heo hút gió, mỗi lần cán bộ chúng tôi được gặp Bác, thật vui mừng, ấm cúng như gặp cha mẹ, như là Bác đem gia đình, làng mạc đến giữa chúng tôi. Lớp nghiên cứu chính trị năm 1953 tập hợp 400 cán bộ chung quanh Trung ương; về học trong cái hội trường rộng lớn dưới bóng cây cao, Bác đến với chúng tôi bốn lần, tức khắc sự bình thường nhảy vọt thành đêm hội lớn, chúng tôi như bỏ chung tâm hồn vào với nhau làm hoa 400 cánh, mà Bác là cái nhụy huy hoàng ở giữa; những lời Bác dạy những đêm ấy mãi còn văng vẳng bên tai.

*

*        *

Hai mươi hai năm rồi, tôi vẫn nhớ đêm trong rừng Việt Bắc, giữa hội trường lớn dưới rừng cây, trong lớp học tập chính trị, Bác Hồ nói: “Các các chú bây giờ không phải là những công chức cũ, sớm vác ô đi tối vác về, mà các cô các chú là cán bộ, đầy tớ phục vụ nhân dân”. Bác lại nói: “Ngồi thì ngồi một ghế. Chớ tham một lúc mà ngồi cả hai ghế. Ngồi cả hai ghế thì không vững, mà ngã rất nguy hiểm”. Ý Bác muốn nói: đã phục vụ nhân dân lao động thì thôi, đừng vào nhà địa chủ ăn cơm thịt gà, đừng tơ hào với giai cấp tư sản, đừng nhận vàng ở trong Hà Nội bị địch tạm chiếm gửi ra. Và Bác nói một ý rất dễ hiểu mà rất sâu sắc đối với chúng tôi: “Trèo lên núi thì khó và mệt, nhưng lên tới đỉnh thì khoan khoái nhẹ nhàng; lăn xuống núi rất dễ, rất mau, nhưng lăn xong rồi thì tan xương nát thịt”.

Trong lớp học nghiên cứu ấy, tôi đã viết bài Thơ dâng Bác Hồ, bày tỏ cảm xúc của mình trong học tập. Trong bài thơ có câu “Người tuy trong Đảng, hồn còn ở xa”. Những lần đi bình thơ, tôi thường kể lại câu chuyện vui là lý do ra đời câu thơ đó: Có những đêm ngủ trong cơ quan giữa rừng Việt Bắc, tôi chiêm bao thấy mình đang ở giữa phố Hà Nội và mua hàng. Tôi đang ôm một gói hàng, bỗng nhiên thấy một cảnh sát Pháp và mấy tên Việt gian đuổi theo, và tôi chạy. Tôi chạy hộc tốc, mệt quá, đứt hơi... Giật mình mở choàng mắt ra, mồ hôi đang vã ra, may quá, chẳng thấy giặc Pháp đâu, rừng Việt Bắc đang bảo vệ tôi an toàn, và tôi quờ tay ra, còn đụng vào đồng chí Tố Hữu ngủ ở bên cạnh. Tôi là một trí thức tiểu tư sản, tâm lý dao động trước những gian khổ, đêm khuya, khí rừng Việt Bắc, làm cho tim tôi vốn yếu, đập mạnh như tôi đang chạy, kết hợp với tưởng sai lầm, thành ra giặc Pháp đuổi tôi và tôi chạy! Chuyện chiêm bao có thật, kể lại thấy buồn cười, nhưng ai có ngờ rằng trong tâm lý, tâm trạng con người lại tinh vi đến thế. Tại lễ bế mạc lớp vào ngày sinh nhật Bác 19/5/1953, tôi đã viết:

Ngày sinh nhật Bác quang vinh

ngày sinh nhật hồn xanh muôn người.

 

Nhà thơ Xuân Diệu, in trong Bác Hồ với văn nghệ sĩ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1995.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn