Bậc kỳ tài quân sự

Vào khoảng niên hiệu Thiệu Bảo đời vua Trần Nhân Tông, quân Nguyên Mông gồm những tướng giỏi đã chia quân thành nhiều ngả kéo vào cướp nước ta. Vua Trần Nhân Tông mới hỏi Quốc Tuấn rằng: “Thế quân giặc mạnh như vậy, có lẽ ta phải đầu hàng”. Quốc Tuấn đáp: “Xin hãy chém đầu hạ thần này trước đã, rồi hãy đầu hàng”. Sau đó Quốc Tuấn được nhà vua cử giữ chức Tiết Chế các quân thủy bộ, tập hợp quân sĩ đánh giặc. Trận Vạn Kiếp quân ta dành thắng lợi đã chứng tỏ bản lĩnh của Trần Quốc Tuấn luôn quyết tâm diệt giặc không gì lay chuyển được. Ngay những lúc gian nan nguy hiểm nhất vị tướng này vẫn tin vào thắng lợi, giữ vững lòng quân, lòng dân.
Năm Trùng Hưng thứ hai, quân Nguyên Mông lại ồ ạt kéo sang xâm lược nước ta một lần nữa. Vua cho mời Quốc Tuấn vào bàn kế đánh giặc và giao cho ông chỉ huy. Ông đã chia quân đóng giữ những nơi quan ải hiểm yếu. Trước hết truyền lệnh cho quân lính trồng cọc vót nhọn xuống dòng sông Bạch Đằng, lấy rơm, cỏ bọc lên đầu cọc. Rồi nhân lúc nước thủy triều dâng cao, cho quân ra khiêu chiến. Quân giặc đuổi theo. Đến khi nước rút, thuyền giặc vướng mắc vào cọc, rút lui không được, bị quân ta tiêu diệt. Tướng giặc Ô Mã Nhi và đồng bọn đều bị bắt. Lập được đại công này, Quốc Tuấn được phong Đại Vương Thượng Quốc Công. Tên tuổi lừng lẫy đến tận phương Bắc, kẻ thù nể phục gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương, không dám gọi tên.

Lễ hội quân trên sông Lục Đầu tái hiện lại chiến thắng lịch sử chống quân Nguyên Mông do Trần Quốc Tuấn chỉ huy (ảnh tư liệu)
Trận quyết chiến Bạch Đằng thắng lợi, toàn bộ đạo quân của địch đã bị tiêu diệt và bị nhấn chìm trong sóng nước. Với những chiến công vang dội trong những lần chống quân Nguyên Mông cùng các chiến thuật về quân sự, tên tuổi của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lừng lẫy khắp thế giới. Trước khi qua đời, Ngài đã trăn trối những lời tâm huyết: “Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp” và dặn thêm phải “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.
Ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý tại Phủ Vạn Kiếp. Sau khi ông mất triều đình phong tặng là Thái sư Thượng phụ Thượng Quốc công Tiết chế Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương. Nhân dân thương tiếc, kính trọng, tôn vinh ông là Đức Thánh Hưng Đạo Vương và lập đền thờ Đức Thánh Trần ở đền Kiếp Bạc và nhiều nơi trong cả nước. Vua Tự Đức có làm bài thơ ngự chế ca ngợi về chiến công của Trần Quốc Tuấn như sau: “Vì nước riêng quên mấy chuyện mình/ Gậy không, tay múa võ công thành/ Cuối cùng giặc Bắc kinh hồn chạy/ Vỏ kiếm rền vang báo ứng linh”.



