Người có công giúp đỡ cách mạng

Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm

Tây Ninh15/05/202611A1 (THPT Lý Thường Kiệt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đoàn viên, thanh niên là lực lượng tiên phong, đi đầu trong công việc bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Nối tiếp tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của anh Lý Tự Trọng, lớp lớp thanh niên đã ghi tên mình vào trang sử vàng của dân tộc với nhiều chiến công hiển hách, vang dội. Trong kháng chiến chống Pháp, có chị Võ Thị Sáu, anh La Văn Cầu, anh Cù Chính Lan, chị Nguyễn Thị Chiên… Trong hơn 2 thập niên đánh đuổi Mỹ xâm lược, có chị Tạ Thị Kiều, chị Lê Thị Hồng Gấm, anh Lê Mã Lương,… Và cũng vào thời kỳ chống Mỹ cứu nước cũng từng có một người con gái, một anh hùng mang sứ mệnh chân chính của người lính Cụ Hồ. Chị cũng đã có ước mơ, hoài bão nhưng ước mơ, hoài bão của chị là dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh. Chị chọn cho mình một công việc vinh quang nhưng vô cùng gian khó. Để rồi, thanh xuân của chị mãi mãi ở tuổi 20, cái tuổi đẹp nhất, sung sức nhất của cuộc đời. Đó là “Nữ đoàn viên ưu tú –Bác sĩ Đặng Thùy Trâm”.

Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942 tại Hà Nội, trong một gia đình trí thức nổi tiếng với truyền thống yêu nước. Cha chị là ông Đặng Ngọc Khuê, bác sĩ ngoại khoa; mẹ là bà Doãn Ngọc Trâm, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội. Tuổi thơ của Đặng Thùy Trâm thấm đẫm tinh thần yêu nước, lý tưởng cách mạng và khát vọng cống hiến. Năm 1961, chị thi đỗ vào Trường Đại học Y khoa Hà Nội – một trong những trường đại học danh giá nhất cả nước thời bấy giờ. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ năm 1966, Đặng Thùy Trâm đã có thể chọn con đường an toàn nơi đô thị. Nhưng theo tiếng gọi của miền Nam ruột thịt, người con gái ấy đã xung phong vào miền Nam chiến đấu nơi những chiến sĩ của ta đang chiến đấu ác liệt nhất, anh dũng nhất.

Khi đất nước bước vào giai đoạn khó khăn nhất, năm 1967, tốt nghiệp sớm, chị tình nguyện tham gia miền Nam, địa bàn ác liệt nhất và nhận nhiệm vụ tại Bệnh xá huyện Đức Phổ (T18). Ở đó, những điều kiện y tế thiếu thốn đến mức sơ khởi: phòng mổ là hầm chữ A, bàn mổ là tấm ván gỗ, dao mổ phải mài từ bu-ri xe, thuốc khan hiếm đến mức chị dùng lá kia lim thay thế. Song Đặng Thùy Trâm không than trách: nhật ký chị vẫn đầy ắp tình thương, niềm tin và lời hứa với chính mình: “Mình không được bỏ sót một bệnh nhân nào, dù là chiến sĩ hay người dân.”

Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, bệnh xá trở thành nơi cứu sinh cho hàng chục thương binh mỗi ngày. Khi máy bay B‑52 ném bom dày đặc, Đặng Thùy Trâm cùng đồng đội dời viện qua 15 điểm bằng cách đào hầm, xây dựng lán dã chiến; họ thức trắng đêm để tiếp tục cứu người, không một lần nghĩ đến bản thân mệt mỏi. Nổi bật nhất là câu chuyện 14 thủy thủ tàu không số 643: bị thương nặng, phải nhập viện, họ được chị nhường phần cơm gạo trắng, món ăn hiếm hoi giữa chiến dịch dài ngày; họ gọi chị là: “Thiên thần áo trắng.” Điều này nói lên một tinh thần sống không chỉ bằng cống hiến, mà bằng cả lòng trắc ẩn và sự chia sẻ từ trái tim trong túi thuốc.

Ngày 22/7/1970, khi đang trên đường tới lán thăm dân, Đặng Thùy Trâm và y tá Kim Liên bất ngờ bị phục kích. Trong giây phút sinh tử, chị không chút do dự dùng thân mình che cho đồng đội, chịu đạn thay. Dù tuổi đời còn rất trẻ, chị đã thể hiện khí chất của một người chiến sĩ mẫu mực, chiến đấu và hy sinh vì người khác. Chị ngã xuống lặng lẽ, nhưng đã cứu sống người còn lại. Hai cuốn nhật ký mà chị để lại tưởng chừng đã bị đốt khi rơi vào tay lính Mỹ. Thế nhưng, trung úy Frederic Whitehurst, xúc động trước dòng chữ đỏ trên bìa “Đừng đốt! Trong đó đã có lửa,” đã giữ lại suốt hơn 35 năm, trước khi trao lại cho gia đình chị năm 2005. Ngay sau khi được công bố, Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã tạo nên hiện tượng xuất bản với hơn 400.000 bản in, được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ. Báo chí quốc tế gọi chị là “Anne Frank của Việt Nam,” như một cách thừa nhận sức lan tỏa từ trái tim quả cảm của chị. Ngọn lửa ấy, từ hầm chữ A Đức Phổ năm xưa, vẫn cháy trong trái tim nhiều thế hệ hôm nay.

“Nhật ký Đặng Thùy Trâm” xuất bản lần đầu năm 2005, nhanh chóng trở thành hiện tượng văn học đặc biệt, phát hành hàng triệu bản, được dịch ra hơn 20 ngôn ngữ trên thế giới, chuyển thể thành phim (Đừng đốt – đạo diễn Đặng Nhật Minh), được đưa vào sách giáo khoa và giảng dạy tại nhiều trường đại học trong nước và quốc tế. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực ác liệt nơi chiến trường, mà còn lột tả một đời sống nội tâm mãnh liệt, chân thực, giàu cảm xúc của một nữ bác sĩ giữa ranh giới sống – chết. Ở đó, người ta thấy một cô gái yêu tha thiết đất nước, yêu thương con người, khát vọng sống, khao khát cống hiến và luôn tin vào một ngày mai chiến thắng.

Chị đã thể hiện quan điểm sống, lý tưởng cách mạng của mình và thế hệ thanh niên thời bấy giờ trên trang đầu nhật ký của mình qua những dòng nổi tiếng của văn hào N.A.Ostrotsky: “…Đời người ta chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí,… để khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể nói rằng: Cả đời ta, cả sức ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”.

Tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh đã cống hiến xứng đáng cho cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập. Trong bức thư mà Bác sĩ Đặng Thùy Trâm viết cho em gái khi chị chuẩn bị ra chiến trường: “Từ trong gian khổ mới hiểu rõ hơn giá trị của những người cách mạng. Ai đứng vững trong lửa đỏ và nước sôi, người đó là người chiến thắng”. Và trong bức thư chị viết cho em gái từ chiến trường chị cũng nói: “Không ở đâu giá trị đích thực của con người được thấy rõ như tại chiến trường miền Nam lúc này, nơi đó chị sẽ làm được nhiều việc có ích… đem ánh sáng cho những đôi mắt tật nguyền, đem niềm vui và chút hiểu biết đã thu nhận được suốt 15 năm qua dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Trong gian lao chị sẽ tìm được hạnh phúc chân chính”.

Cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm không chỉ chạm tới hàng triệu trái tim trên khắp thế giới, mà còn trở thành biểu tượng sống động của khát vọng cống hiến, tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm. Đối với cán bộ, giảng viên Khoa Tin học - Ngoại ngữ, câu chuyện ấy không dừng lại ở giá trị lịch sử, mà là lời mời gọi hành động; đó là: hành động bằng bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, tác phong sư phạm và tinh thần cống hiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn