Người có công giúp đỡ cách mạng

BÁC SĨ ĐẶNG THÙY TRÂM: NGỌN LỬA TRÍ THỨC VÀ BIỂU TƯỢNG CỦA CHỦ NGHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG LẶNG LẼ (1)

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm là biểu tượng rực rỡ của tinh thần trí thức dấn thân và lòng yêu nước nồng nàn của thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ chống Mỹ. Tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội, chị tình nguyện rời Thủ đô để vào "chảo lửa" Đức Phổ, Quảng Ngãi, nơi chị vừa là người thầy thuốc tận tụy cứu chữa thương binh dưới hầm tối, vừa là người chiến sĩ kiên cường bảo vệ bệnh xá. Chị hy sinh anh dũng ở tuổi 28 khi một mình cầm súng đối đầu với quân thù để bảo vệ đồng đội, để lại cuốn nhật ký bất hủ với l

Tây Ninh25/04/2026Đoàn phường tân ninh (Đoàn phường Tân Ninh)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942 tại Huế nhưng lớn lên trong lòng Thủ đô Hà Nội, là con cả trong một gia đình trí thức tiêu biểu với truyền thống ngành y lâu đời. Thừa hưởng nền giáo dục nhân văn và đức độ từ cha là bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê cùng mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm, chị mang trong mình vẻ đẹp thanh lịch của một nữ sinh trường Chu Văn An cùng một tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn. Sau khi tốt nghiệp loại ưu tại Đại học Y khoa Hà Nội vào năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn quyết liệt, người thiếu nữ trẻ ấy đã gác lại tương lai tươi sáng tại miền Bắc, từ biệt gia đình để xung phong vào tuyến đầu gian khổ. Sau hơn ba tháng đi bộ ròng rã vượt qua muôn vàn hiểm nguy trên đường mòn Hồ Chí Minh, chị chính thức có mặt tại chiến trường Quảng Ngãi vào tháng 3/1967, bắt đầu hành trình phụng sự nhân dân và Tổ quốc với tất cả nhiệt huyết của tuổi thanh xuân.

Tại mảnh đất Đức Phổ – nơi bấy giờ là mục tiêu bắn phá hủy diệt của quân đội Mỹ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm được giao trọng trách phụ trách bệnh xá huyện dã chiến. Trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt của núi rừng, khi thuốc men, bông băng và dụng cụ y tế luôn trong tình trạng cạn kiệt, chị đã thực hiện hàng trăm ca phẫu thuật cứu sống thương binh ngay dưới những căn hầm tối tăm, giữa tiếng bom gầm đạn rú. Chị không chỉ là một người thầy thuốc tận tụy, sẵn sàng nhường cả phần lương khô ít ỏi hay truyền chính máu của mình cho bệnh nhân, mà còn là một người con, người chị hiền hậu, là điểm tựa tinh thần vững chắc cho các chiến sĩ giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Những dòng nhật ký chị viết trong thời gian này không chỉ là những ghi chép về công việc y tế, mà còn là những dòng tâm sự đẫm nước mắt về nỗi nhớ nhà da diết, về sự căm thù giặc sâu sắc và trên hết là một lý tưởng sống rực cháy: chấp nhận gian khổ, hy sinh vì độc lập dân tộc.

Sự hy sinh của chị vào ngày 22/6/1970 là một minh chứng hùng hồn cho ý chí quật cường của người phụ nữ Việt Nam. Trong một trận càn quét khốc liệt của Sư đoàn Bộ binh Mỹ, khi đang trên đường đi công tác để bảo vệ bệnh xá và các thương binh, chị bị quân địch phục kích. Thay vì chọn con đường lẩn trốn, người nữ bác sĩ chưa đầy 28 tuổi đã dũng cảm cầm súng chiến đấu đơn độc để thu hút hỏa lực của kẻ thù về phía mình, tạo cơ hội cho đồng đội và thương binh rút lui an toàn. Chị đã ngã xuống khi trong túi áo vẫn còn giữ những trang nhật ký cuối cùng viết về niềm tin vào ngày chiến thắng. Sự thật về cuộc đời chị tưởng chừng đã nằm lại nơi đại ngàn, nhưng cuốn nhật ký định mệnh được sĩ quan quân báo Frederic Whitehurst giữ lại đã tạo nên một hành trình hồi sinh kỳ diệu. Suốt 35 năm lưu lạc bên kia bán cầu, những dòng chữ “có lửa” ấy đã chinh phục cả những người từng ở bên kia chiến tuyến trước khi trở về Việt Nam vào năm 2005, trở thành một biểu tượng bất tử về tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về giá trị của hòa bình và ý chí không bao giờ cúi đầu trước giông tố.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn