Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch
Năm 1936, phòng khám tư của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tại Sài Gòn luôn tấp nập giới thượng lưu. Tốt nghiệp Y khoa tại Paris, sở hữu kỹ thuật điều trị bệnh lao tiên tiến hàng đầu Đông Dương, ông hoàn toàn có thể chọn một cuộc sống giàu sang và vị thế xã hội vững chắc. Nhưng đằng sau cánh cửa phòng khám sang trọng, vị bác sĩ trẻ lại nhìn thấy một thực tế tàn khốc khác: hàng triệu người dân nghèo đang gục ngã vì bệnh lao và các dịch bệnh truyền nhiễm trong cảnh kiệt quệ thuốc men.
Từ bỏ nhung lụa để chọn đường gian khổ
Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đưa ra quyết định bước ngoặt: gạt bỏ toàn bộ tài sản, địa vị cá nhân để dấn thân vào cuộc kháng chiến. Ông đảm nhận vai trò Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đứng trước một nền y tế hoang tàn, thiếu thốn từ viên thuốc kháng sinh cơ bản cho đến dụng cụ phẫu thuật.
Dưới sự chỉ đạo của ông, ngành y tế cách mạng đặt ra chiến lược rõ ràng: lấy y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở làm nòng cốt. Trước tình trạng khan hiếm dược phẩm nhập khẩu, ông thúc đẩy việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, tổ chức nghiên cứu và sản xuất vắc-xin BCG phòng lao cùng các loại vắc-xin phòng dịch ngay trong điều kiện phòng thí nghiệm dã chiến. Các mô hình vệ sinh làng xã và phong trào phòng bệnh do ông khởi xướng đã đặt nền móng cho hệ thống y tế cộng đồng bao phủ đến tận cấp xã.
Năm 1958, với những đóng góp mang tính nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Chuyến đi cuối cùng về chiến trường miền Nam
Năm 1968, cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn khốc liệt. Yêu cầu cứu chữa thương bệnh binh và kiểm soát dịch bệnh tại các căn cứ miền Nam trở nên vô cùng cấp bách. Mặc dù ở tuổi 59 và sức khỏe đã suy giảm do làm việc cường độ cao liên tục, Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch vẫn quyết định trực tiếp xẻ dọc Trường Sơn đi vào chiến trường B (Căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại Tây Ninh).
Tại vùng rừng căn cứ ven biên giới, dưới nguy cơ oanh kích thường trực và dịch bệnh rình rấp, ông không ở lại đại bản doanh mà trực tiếp di chuyển qua các hầm mổ dã chiến, kiểm tra công tác khử trùng, lọc nước và điều trị sốt rét cho bộ đội. Việc một Bộ trưởng Y tế trực tiếp có mặt tại tuyến đầu đã trực tiếp giải quyết nhiều bài toán kỹ thuật quân y cấp bách tại chỗ.
Tháng 11 năm 1968, sau những ngày làm việc liên tục quá sức trong điều kiện khắc nghiệt của rừng sâu, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trút hơi thở cuối cùng vì bệnh sốt rét ác tính biến chứng, ngay trên chiếc võng dã chiến tại chiến khu R.
Ông nằm xuống giữa chiến trường khi chiến dịch năm 1968 vẫn đang diễn ra, để lại một hệ thống tư duy y tế dự phòng hiện đại cùng tấm gương về tinh thần dấn thân trọn vẹn của một trí thức Việt Nam.



