BÁC SĨ TẠ THỊ CHUNG – ANH HÙNG ÁO TRẮNG TRONG THỜI HOA LỬA
Bác sĩ, Anh hùng Lao động, Thầy thuốc Nhân dân Tạ Thị Chung – người con gái xứ Dừa kiên trung, từ cô gái may hiền lành trở thành nữ chiến sĩ áo trắng giữa bom đạn chiến trường. Suốt đời gắn bó với ngành y, bà không chỉ cứu người trong chiến tranh mà còn góp công lớn xây dựng Bệnh viện Từ Dũ sau ngày đất nước thống nhất. Một tấm gương sáng của lòng nhân ái, trí tuệ và sự tận hiến cho sự sống và hạnh phúc của con người.
Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1931 tại xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre – mảnh đất kiên trung của xứ Dừa, bà Tạ Thị Chung – người con gái út trong một gia đình làm ruộng nghèo khó, sớm được cha mẹ nuôi dưỡng bằng tình thương và niềm tin vào con chữ. Từ thuở nhỏ, cô gái Tạ Thị Chung đã bộc lộ sự lanh lợi, khéo léo và chăm chỉ. Cha mẹ định cho con gái út mở tiệm may nhỏ để tự lập, nhưng biến cố lịch sử và tình yêu Tổ quốc đã rẽ hướng cuộc đời bà.
Những năm Pháp tái chiếm Bến Tre, giặc dựng đồn bốt, khủng bố phong trào cách mạng. Một tên “Phòng nhì” đòi cưới bà làm vợ, đe dọa cả gia đình nếu bà từ chối. Trước hiểm nguy ấy, cô gái trẻ không sợ hãi mà tìm đường thoát thân bằng cách tham gia công tác phụ nữ xã, phụ trách thiếu nhi, vừa để tránh sự đàn áp, vừa góp phần nhỏ bé cho kháng chiến. Chính từ đó, ngọn lửa cách mạng âm ỉ trong bà được thắp sáng.
Năm 1950, Tạ Thị Chung được điều động về công tác ở huyện. Khi thực dân Pháp chiếm đóng Bến Tre, bà theo cơ quan Huyện ủy sang vùng giải phóng Thạnh Phú, vừa làm công tác phụ nữ vừa đảm nhiệm nhiệm vụ giao liên. Tại đây, bà được cử đi học lớp nữ hộ sinh do Bác sĩ – Nhà giáo Nhân dân Trần Hữu Nghiệp trực tiếp giảng dạy. Chính nghề y đã đưa bà đến gần hơn với nhân dân, giúp bà vừa chăm sóc sức khỏe cho đồng bào, vừa thuận lợi cho công tác cách mạng.
Sau Hiệp định Genève, địch tăng cường khủng bố, bắt bớ những người kháng chiến cũ. Trong vỏ bọc của một nữ hộ sinh, bà tiếp tục hoạt động cách mạng, bị địch bắt giam và tra khảo suốt một năm tại nhà lao Định Tường. Không khuất phục, không hé lộ bí mật, bà trở về địa phương, tiếp tục làm y tế xã, rồi được tổ chức cử lên chiến khu R học y sĩ.
Tại Bệnh viện Trung cao Hoàng Lê Kha, giữa rừng miền Đông, bà vừa học vừa cứu chữa thương bệnh binh. Học xong, bà trở thành trưởng khu điều trị, ngày đêm tận tụy bên thương binh, nhiều lần đối mặt bom đạn, thiếu thuốc, thiếu thiết bị. Khi chuyển đến Bệnh viện Liên Cơ ở Tân Biên (Tây Ninh), bà cùng đồng đội phải “đùm” bệnh nhân di chuyển mỗi khi địch càn, dựng bệnh viện dã chiến giữa rừng, chăm sóc người bị sốt rét, bị thương, hoặc kiệt sức sau hành trình Trường Sơn.
Giữa khói lửa chiến tranh, hình ảnh nữ bác sĩ Tạ Thị Chung trong bộ áo blouse trắng, tay cầm đèn pin, quỳ bên thương binh mổ cấp cứu bằng dụng cụ thô sơ đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm và nhân hậu – một “bông hoa trắng” giữa rừng xanh khói lửa.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bác sĩ Tạ Thị Chung được phân công về Bệnh viện Từ Dũ, đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc bệnh viện. Khi ấy, cơ sở vật chất cũ kỹ, thiết bị hư hỏng, khu sinh nở chật chội, quá tải. Bà cùng tập thể cán bộ, bác sĩ không quản khó khăn, từng bước chấn chỉnh lại tổ chức, sắp xếp khoa phòng, xây dựng lại quy trình điều trị khoa học và chuẩn hóa.
Bà đặc biệt chú trọng đào tạo thế hệ bác sĩ trẻ, phân công người giỏi kèm cặp người mới, thống nhất phác đồ điều trị để giảm tỉ lệ tử vong của mẹ và bé. Bà cũng tiên phong đề xuất thu viện phí theo thu nhập – người có điều kiện đóng góp để hỗ trợ bệnh nhân nghèo – mô hình nhân văn được nhân rộng nhiều nơi sau này.
Nhờ sự điều hành khoa học và tấm lòng nhân hậu, Bệnh viện Từ Dũ nhanh chóng trở thành trung tâm phụ sản hàng đầu của cả nước. Trước sân bệnh viện, bức tượng “Hạnh phúc” do nữ điêu khắc Phan Gia Hương thực hiện, chính là ý tưởng của bà – biểu tượng cho khát vọng mang lại sự sống và hạnh phúc cho người phụ nữ Việt Nam.
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với ngành y, Anh hùng Lao động – Thầy thuốc Nhân dân Tạ Thị Chung không chỉ là người thầy thuốc giỏi chuyên môn, mà còn là người mẹ hiền của bao thế hệ bác sĩ, y tá và bệnh nhân. Ở bà hội tụ đầy đủ phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam: kiên cường, nhân hậu, tận tụy và giản dị.
Cuộc đời bà là minh chứng sinh động cho sức mạnh của tình yêu thương và lòng cống hiến. Trong chiến tranh, bà cứu người giữa đạn bom; trong hòa bình, bà dựng xây sự sống từ những tiếng khóc chào đời. Tấm lòng nhân hậu của bà – “tấm lòng vàng” – sẽ mãi tỏa sáng, lan tỏa yêu thương, trở thành ngọn lửa ấm áp cho bao thế hệ tiếp nối.
Người phụ nữ kiên trung của xứ Dừa – biểu tượng của người anh hùng áo trắng trong “thời hoa lửa” và cả trong những ngày bình yên của Tổ quốc.
Nguồn tham khảo: Bảo tàng phụ nữ Nam Bộ


