Cựu Thanh niên xung phong

BÁC: TRẦN VĂN KÝ - MỘT THỜI ĐỂ NHỚ, MỘT ĐỜI TRI ÂN

BÁC: TRẦN VĂN KÝ - MỘT THỜI ĐỂ NHỚ, MỘT ĐỜI TRI ÂN Sự năng động, sáng tạo và cống hiến của thanh niên Việt Nam trong mọi thời đại: Bác Trần Văn Ký, quê ở ấp Phước Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, là một trong những người con ưu tú của vùng đất hiền hòa mà kiên cường. Là cựu thanh niên xung phong, bác đã dành trọn tuổi xuân của mình để cống hiến cho Tổ quốc trong những năm tháng gian lao của dân tộc. Cuộc đời và hành trình của bác gắn liền với một giai đoạn lịch sử hào hùng, khi

Vĩnh Long27/11/2025BCH LCĐ Khoa Nông Nghiệp Thủy Sản - Trường Đại học Cửu Long (Xã đoàn Thạnh Hải)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm ấy, khi đất nước vẫn còn chìm trong khói lửa chiến tranh, tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã thôi thúc chàng thanh niên Trần Văn Ký khi ấy mới tròn 28 tuỏi quyết định rời xa mái nhà thân yêu, tạm biệt cha mẹ và quê hương để lên đường tham gia lực lượng Thanh niên xung phong. Với tinh thần “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, bác cùng đồng đội đảm nhận những nhiệm vụ đầy gian khổ: mở đường, vận chuyển lương thực, dựng căn cứ và bảo vệ thông tin liên lạc giữa các đơn vị chiến đấu. Mỗi công việc đều thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu, nhưng cũng chan chứa tinh thần yêu nước và niềm tin son sắt vào ngày toàn thắng.

Năm 1978,thành lập tiểu đoàn 1( Tên: Nguyễn Văn Tiên ) sau đó đỏi thành tiểu đoàn D1, người thanh niên Trần Văn Ký đã tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong, trở thành một trong những người tiên phong của quê hương Phú Quới, Long Hồ, Vĩnh Long lên đường phục vụ kháng chiến. Trong những năm đầu hoạt động, bác được điều về Đồng Tháp, làm nhiệm vụ ở vùng Thường Phước – nơi được mệnh danh là “mưa nắng lửa” vì khí hậu khắc nghiệt và địa hình hiểm trở. Ban ngày, bác cùng đồng đội mở đường, đắp đê, vận chuyển nhu yếu phẩm cho bộ đội; ban đêm, họ thay phiên canh gác, bảo vệ an toàn cho đơn vị. Những con đường bác đi qua không chỉ in dấu vết bàn chân, mà còn thấm đẫm mồ hôi và lòng yêu nước của biết bao người con Việt Nam.

Trong những năm tháng ấy, bom đạn không chỉ thử thách lòng can đảm mà còn rèn giũa ý chí kiên cường của người lính trẻ. Bác từng kể lại, có những đêm hành quân giữa rừng rậm, muỗi bay dày đặc, cơ thể mệt lả vì sốt rét nhưng không ai bỏ vị trí. Khi tiếng máy bay địch gầm rú trên đầu, họ nằm rạp xuống đất, nín thở chờ qua đợt oanh tạc, rồi lại lặng lẽ đứng dậy tiếp tục công việc. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, nhưng niềm tin vào lý tưởng và tinh thần đồng đội đã giúp họ vượt qua tất cả.

Đến tháng 7 năm 1979, bác Trần Văn Ký tiếp tục được điều động tham gia chiến dịch giải phóng Campuchia (Prey Veng) – một chiến dịch quốc tế lớn lao, góp phần giúp nhân dân nước bạn thoát khỏi nạn diệt chủng tàn khốc. Ở nơi chiến trường xa xứ, điều kiện vô cùng khắc nghiệt: thiếu thốn lương thực, thuốc men, thời tiết khắc nghiệt và dịch bệnh hoành hành. Thế nhưng, bác và đồng đội vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững tinh thần chiến đấu, vượt qua bệnh tật, hiểm nguy để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả. Chính tại nơi ấy, bác đã chứng kiến biết bao đồng đội ngã xuống, nhiều người mang thương tật suốt đời – những ký ức không bao giờ phai trong tâm trí người lính.

Khi Tết năm 1979 đến, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bác trở về quê hương Phú Quới trong niềm hạnh phúc xen lẫn xúc động. Hòa bình chưa kịp lắng, bác lại tiếp tục dấn thân vào công tác dân vận, cùng đồng đội hỗ trợ nhân dân khôi phục cuộc sống sau chiến tranh. Không quản ngại gian khổ, bác được điều động về Trà Vinh, nơi còn nhiều khó khăn, tiếp tục cùng anh em khai hoang, phục hóa ruộng đồng, giúp dân ổn định cuộc sống và tham gia bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường. Những năm tháng bền bỉ ấy đã rèn cho bác một tinh thần thép, một niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc – những giá trị mà bác luôn mang theo suốt cuộc đời. Sau năm 1981, khi đơn vị giải thể, bác Trần Văn Ký trở về quê hương Vĩnh Long, tiếp tục lao động, tăng gia sản xuất và tích cực góp phần xây dựng, phát triển địa phương. Dù rời xa quân ngũ, tinh thần người thanh niên xung phong năm nào vẫn luôn cháy mãi trong bác. Khi Nghị quyết số 62 được ban hành, bác cùng các đồng đội lại một lần nữa phối hợp với chính quyền và các tổ chức liên quan để tìm kiếm, quy tập hài cốt những đồng đội đã hy sinh năm xưa. Trải qua bao năm tháng, giờ đây trên địa bàn xã Phú Quới chỉ còn khoảng 17–18 người đồng đội cũ của bác còn sống, nhưng họ vẫn giữ vững tinh thần gắn bó, nghĩa tình và cùng nhau ôn lại những kỷ niệm không thể nào quên. Dù không mang trên ngực tấm huân chương danh dự, nhưng chính cuộc đời giản dị, chân thành và sự cống hiến bền bỉ của bác cho quê hương, cho những giá trị tốt đẹp của đất nước, đã là một phần thưởng cao quý nhất. Hình ảnh bác Trần Văn Ký – người cựu thanh niên xung phong giàu lòng nhân hậu, kiên cường và đầy trách nhiệm – sẽ mãi là tấm gương sáng để thế hệ hôm nay noi theo.

Bác dừng lại nghen ngào nói :

“Tuổi trẻ chúng tôi đã hiến dâng cho Tổ quốc, không hối tiếc. Giờ chỉ mong con cháu sống tốt, sống tử tế, luôn biết gìn giữ truyền thống của dân tộc, thế hệ trẻ là trụ cột của tổ quốc phải học tới học thật giỏi để không phụ hi sinh của cha, ông ta đã ngã xuống để cho chúng ta có cuộc sống như hôm nay.”

Bác luôn đau đáo trong lòng một tâm nguyện :

“Tôi thi vọng có một ngày có thể tập hợp lại được các anh em đã cùng tôi chiến đấu ở chiến trường năm xưa. ”

Từ những câu chuyện thực tế ấy, thế hệ trẻ hôm nay càng thấu hiểu rằng: ở bất kỳ thời đại nào, thanh niên cũng phải là lực lượng tiên phong, là ngọn lửa xung kích của xã hội. Mỗi người trẻ cần sống có lý tưởng, có trách nhiệm, không chỉ với gia đình và quê hương, mà còn với Tổ quốc và chính bản thân mình. Bài học từ thế hệ đi trước – những con người như bác Trần Văn Ký – luôn nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng hòa bình, giữ vững tinh thần cống hiến và không ngừng phấn đấu để tiếp nối truyền thống vẻ vang của cha anh.

Sau cuộc trò chuyện đầy cảm xúc với bác Trần Văn Ký không chỉ giúp chúng tôi hiểu thêm về những năm tháng gian khổ, hào hùng của một thời thanh niên xung phong, mà còn khơi dậy trong lòng thế hệ trẻ hôm nay niềm tự hào và trách nhiệm kế thừa.

Lời cuối cùng chúng con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến bác – người đã dành trọn tuổi xuân cho Tổ quốc, âm thầm cống hiến mà không mong đền đáp.

Chúng con xin hứa sẽ sống xứng đáng với sự hy sinh và cống hiến của các thế hệ đi trước – không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến hết mình để tiếp nối truyền thống vẻ vang mà bác cùng cha ông đã dày công vun đắp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn