Bài viết

“Bài ca ống cóng” của người lính Tây Nguyên (1)

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Bài ca ống cóng” của người lính Tây Nguyên“Chưa sốt rét chưa thành Quân giải phóng/ Không biết ca cóng không phải lính B3/ Xưa đến nay có muôn vạn bài ca/ Tôi xin kể chuyện “Bài ca ống cóng”…”. Đó là những ca từ giản dị mở đầu “Bài ca ống cóng” mà những người lính Mặt trận Tây Nguyên năm xưa thường ngân vang. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện đang lưu giữ hiện vật bản thảo của bài tấu “Bài ca ống cóng” do chiến sĩ Vũ Minh Thắng, cán bộ Đoàn Văn công Quân Giải phóng Tây Nguyên sáng tác năm 1966.

Đồng chí Vũ Minh Thắng sinh ngày 26 tháng 10 năm 1943 tại huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Năm 1963, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, đồng chí tình nguyện lên đường nhập ngũ, biên chế thuộc Đại đội 21, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Mặt trận Tây Nguyên. Từ đó đến khi miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975, đồng chí Vũ Minh Thắng công tác, chiến đấu gắn bó với Mặt trận Tây Nguyên (Mặt trận B3). Nhớ lại những ngày đầu hành quân vào chiến trường B3 ác liệt, đồng chí Vũ Minh Thắng nói: “Chiều muộn ngày 22 tháng 8 năm 1965, từ chiến khu Ngọc Trạo, tỉnh Thanh Hóa, tôi cùng Đại đội 21, Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 hành quân bộ vào chiến trường Tây Nguyên. Mỗi người lính chúng tôi được phát một ba lô con cóc, quần, áo, tăng, võng, chăn, màn, súng đạn… Và đặc biệt ai cũng được phát một “cóng” mắm kem làm thức ăn suốt dọc đường hành quân. Đó là một ống tròn bằng nhôm rất dày, cứng, đường kính 11cm, cao 20cm, có nắp đậy rất khít và chặt. Mỗi bữa hành quân nghỉ trưa, mỗi người lính có một ống mắm và một vắt cơm”. Sau chiến dịch Plei Me năm 1965, “anh nuôi” Đại đội chủ yếu chỉ nấu cơm và đun nước uống cho mỗi người một bi đông nên đồng chí Vũ Minh Thắng và đồng đội phải sử dụng ống cóng như cái nồi vạn năng để xào, nấu, tự chế biến thức ăn từng bữa cho mình. Việc đun nấu này được các chiến sĩ gọi tắt là “ca cóng”.
Hiện vật bản thảo bài tấu “Bài ca ống cóng” do cựu chiến binh Vũ Minh Thắng trao tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh BTLSQSVN. Năm 1965-1966, Tây Nguyên là chiến trường mới, thiếu thốn mọi mặt. Sinh hoạt ăn uống của bộ đội rất khó khăn, lại thêm sốt rét rừng hoành hành trong thời gian dài nên không ít chiến sĩ đã “lẻn” vào nương bẻ ngô, nhổ sắn, hái rau quả…, sử dụng ống cóng để đun nấu, tự cải thiện bữa ăn. Trước tình hình đó, Trung đoàn 66 đã mở một đợt sinh hoạt chính trị nhằm quán triệt thực hiện nghiêm kỷ luật, chính sách dân vận và củng cố, nâng cao sức chiến đấu cho bộ đội. Các chi đoàn thanh niên trong trung đoàn đi đầu trong việc tổ chức phát động phong trào bài trừ “tệ nạn ca cóng”, phong trào làm thơ, viết bích báo phát triển. Đầu tháng 12 năm 1966, hưởng ứng phong trào viết bích báo chào đón Tết Đinh Mùi 1967 do Chi đoàn Đại đội 21, Trung đoàn 66 phát động, đồng chí Vũ Minh Thắng đã lấy cảm hứng từ hiện trạng “ca cóng” để sáng tác bài tấu “Bài ca ống cóng”. Vào đêm liên hoan văn nghệ đón giao thừa Tết Đinh Mùi 1967, bài tấu do chính tác giả thể hiện đã ra mắt Đại đội 21 trong sự ủng hộ nồng nhiệt của cán bộ chỉ huy đến các chiến sĩ. Đồng chí Vũ Minh Thắng kể: “Mới chỉ nghe tên tiết mục thôi, lính đã cười nghiêng ngả. Đến khi tôi biểu diễn thì những tiếng cười, tiếng vỗ tay, thậm chí cả những tiếng reo hò vang lên không ngớt. Bộ đội cười như vậy vì một chuyện “bí mật” riêng tư chỉ diễn ra dưới hầm sâu kín đáo như thế sao lại đưa lên sân khấu? Bộ đội đón nhận hồ hởi như vậy bởi “Bài ca ống cóng” đã nói đúng, nói trúng nỗi gian nan, đói khổ của người lính B3 đang phải gồng sức trẻ để vượt qua”.
Cựu chiến binh Vũ Minh Thắng tại nhà riêng. Ảnh BTLSQSVN. Bài tấu gồm 116 câu thơ tự do, ca từ mộc mạc, gần gũi mà có vần, điệu, kể về những khó khăn, thiếu thốn của người lính chiến trường Tây Nguyên phải trải qua, trong phút yếu lòng đã lấy lương thực của dân cùng những trăn trở, dằn vặt và nhận thức của tác giả sau lần “ca cóng” duy nhất trong đời. Bài tấu thu hút người nghe từ những ca từ đầu tiên bởi lời chào thân quen, gần gũi: Thưa các đồng chí, Lính Tây Nguyên ta có câu: Chưa sốt rét chưa thành Quân giải phóng Không biết ca cóng không phải lính B3 Xưa đến nay có muôn vạn bài ca Tôi xin kể chuyện “Bài ca ống cóng... Tiếp theo, đồng chí Vũ Minh Thắng thuật lại câu chuyện của mình từ khi cùng ba đồng đội bị lạc đơn vị sau trận Ia-Đrăng (tháng 11/1965). Sau ba, bốn ngày vượt rừng, lội suối tìm về đơn vị, bụng đói lả, bốn đồng chí đã ra nương bẻ ngô, sắn của dân và sử dụng ống cóng để đun nấu. Khi đêm về, nhớ đơn vị, nhớ nhà, đồng chí Vũ Minh Thắng hối hận nhận ra mình vừa là kẻ ăn cắp ngô, sắn của dân mà thao thức, trăn trở: Tôi hình dung những hành động vừa rồi Tôi thiếp đi mơ màng như muốn ngủ Nhưng tự nhiên nước mắt cứ tràn mi Tôi bỗng thành kẻ trộm khoai của mẹ năm xưa…. Đồng chí Thắng tâm tình với đồng đội về nhận thức của bản thân và sau cùng, nhắc lại lời thề danh dự thứ 9 của chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam với sự quyết tâm cao trong việc giữ vững phẩm chất người lính Cụ Hồ: Theo tôi hiểu điều cao quý nhất Chính là lòng tự giác của mỗi quân nhân Không lấy cái kim, sợi chỉ của dân Lời thề thứ 9, suốt đời tôi nhớ mãi không quên… Ca từ của bài tấu trong sáng, giản dị, chân thành như những lời tự kiểm điểm của đồng chí Vũ Minh Thắng nhưng lại có sức mạnh nêu gương, cổ vũ, khích lệ mạnh mẽ tinh thần đồng đội phải giữ trọn 10 lời thề danh dự của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững phẩm chất, khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Bài tấu đã góp phần làm tình trạng “ca cóng” trong Trung đoàn 66 thưa dần rồi chấm dứt hẳn. Mỗi lần sinh hoạt toàn đơn vị, “Bài ca ống cóng” lại được nhắc đến như một lời nhắc nhở nghiêm khắc mà cũng hóm hỉnh tới từng chiến sĩ.
Ký họa Bộ đội Mặt trận Tây Nguyên nấu ăn bằng ống mắm kem “ống cóng” của họa sĩ Ngô Bình Thiểm. Ảnh do CCB Vũ Minh Thắng cung cấp.
Sau đêm ra mắt tác phẩm, đồng chí Vũ Minh Thắng được Đoàn Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên lựa chọn làm hạt nhân của đội ngũ cán bộ sáng tác, tiết mục độc tấu “Bài ca ống cóng” trở thành một tiết mục đặc sắc của Đoàn đi biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân địa phương khắp Mặt trận Tây Nguyên từ năm 1966 đến năm 1975. Đặc biệt, năm 1973, tiết mục độc tấu “Bài ca ống cóng” do chính đồng chí Vũ Minh Thắng thể hiện được lựa chọn biểu diễn phục vụ Quân ủy Trung ương tại Nhà hát lớn Hà Nội. Cho đến hôm nay, “Bài ca ống cóng” vẫn là một bài hát riêng của những chiến sĩ mặt trận Tây Nguyên năm nào. Bài tấu được in trong cuốn “Sư đoàn 1 anh hùng” của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân năm 2017 (trang 410) và cuốn “Ký ức Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên” của Nhà xuất bản Lao động năm 2018 (trang 307). Với mong muốn lưu giữ lâu dài tác phẩm tại chiến trường của Đoàn Văn công Quân giải phóng Tây Nguyên năm xưa, ngày 25/8/2018, đồng chí Vũ Minh Thắng đã trao tặng bản thảo bài tấu “Bài ca ống cóng” cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Hiện vật là một trong những minh chứng thể hiện ý chí kiên cường tự chiến thắng chính mình, vượt lên mọi khó khăn, thiếu thốn của các chiến sĩ Mặt trận B3 năm nào để làm nên những chiến công vang dội như Plei Me, Đắc Tô, Tân Cảnh, Buôn Ma Thuột,… đã đi vào lịch sử; qua đó, góp phần hình thành những tình cảm trong sáng với quê hương, đất nước, với các thế hệ cha anh đi trước cho thế hệ trẻ hôm nay./.Kiều Dung - BTLSQSVN

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
“Bài ca ống cóng” của người lính Tây Nguyên (1) | Câu chuyện thời hoa lửa