BÀI DỰ THI ĐỀ ÁN “ CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA”
Họ và tên : Nguyễn Ngọc Khuê
Chi đoàn: Ngôn ngữ Anh I K47
Mã sinh viên: DTF247220201175
BÀI DỰ THI ĐỀ ÁN “ CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA”
“Đời vắng mẹ hiền, không phụ nữ
Anh hùng, thi sĩ nay còn đâu?”
(Đại thi hào người Nga Macxim Gorki)
Một dân tộc có nhiều anh hùng trong kháng chiến là một dân tộc chịu nhiều đau khổ. Dân tộc Việt Nam không chỉ nhiều anh hùng trong kháng chiến mà còn có nhiều nữ anh hùng. Lịch sử đã thử thách dân tộc Việt quá nhiều phen khắc nghiệt. Trong những lần sinh tử ấy, đã có những bậc anh thư đứng lên “nợ nước riêng mình gánh nặng vai”.
Với bà Nguyễn Thị Bình – nguyên Phó Chủ tịch nước, nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam, sau hơn 95 năm tuổi đời và hàng chục năm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, kinh qua nhiều vị trí công tác khác nhau, dấu ấn mà bà để lại thật sự khiến không ít người phải thốt lên như câu thơ nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du: “…đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!".
Madame Bình – “Chuyên gia biểu tình”
Madame Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa), sinh năm 1927, là một nữ trí thức tiêu biểu được nuôi dưỡng trong gia đình giàu truyền thống yêu nước và là cháu ngoại của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Thừa hưởng cốt cách cương trực của người xứ Quảng cùng nền tảng giáo dục bài bản tại trường Lycée Sisowath (Phnôm Pênh), bà sớm giác ngộ và dấn thân vào phong trào học sinh, sinh viên tại Sài Gòn từ năm 17 tuổi. Với biệt danh "chuyên gia biểu tình", bà là linh hồn của nhiều cuộc đấu tranh chính trị lớn tại nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn và giữ vững khí tiết cách mạng ngay cả khi bị thực dân Pháp giam cầm suốt 3 năm tại nhà tù Chí Hòa. Sau khi ra tù và tiếp tục hoạt động đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, năm 1955, bà tập kết ra Bắc để tiếp tục đào tạo và công tác, đặt nền móng vững chắc cho vai trò một nhà ngoại giao sắc sảo, bản lĩnh trên trường quốc tế sau này.
“Đóa hồng thép” tại bàn đàm phán Pari
Cuối năm 1968, Nguyễn Thị Bình được cử làm Trưởng đoàn trù bị, rồi Phó Trưởng đoàn của Mặt trận tham dự Hội nghị Paris (Trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm). Trong hồi ký của mình, bà viết: “Ngay từ phút đó, tôi càng thấy rõ trách nhiệm của mình hơn và có một nguồn động viên rất lớn. Tại đó, tôi đã phát biểu ngay về giải pháp 5 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và được tất cả mọi người xung quanh hoan nghênh nhiệt liệt. Bạn bè Pháp, bà con Việt kiều hô vang: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năm! Việt Nam nhất định thắng!
Lần đầu tiên giữa thủ đô tráng lệ, người dân Paris bắt gặp một đoàn xe Deesse (Nữ thần) phấp phới những lá cờ nửa xanh nửa đỏ với ngôi sao vàng, có ô tô và mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường hộ tống. Ngồi trên xe, nhìn lá cờ Mặt trận, tôi không nén được bồi hồi, xúc động...”.
Những năm tháng tham gia đàm phán ở Hội nghị Paris là một thử thách khắc nghiệt: “Hội nghị Paris là một trận chiến quyết liệt, là những keo vật không đứt giữa các kỳ phùng địch thủ”. Nhưng hình ảnh “madam Bình” theo cách gọi của giới truyền thông vẫn luôn gây ấn tượng mạnh với báo chí phương Tây,
Họ ấn tượng không chỉ bởi trước mắt họ là hình ảnh một người phụ nữ nhỏ nhắn đến từ vùng đất đầy khói lửa chiến tranh nhưng lại có phong cách giao tiếp lịch lãm, sang trọng, nét mặt và nụ cười luôn cởi mở, thân thiện, mà họ còn rất ấn tượng bởi những lời phát biểu đầy thuyết phục, thông minh, lúc rắn rỏi, khi ví von dí dỏm... khiến cho thế giới phải nể trọng, nhân dân nức lòng.
Khoảng thời gian giữa hai kỳ họp là một khối lượng công việc lớn và đầy căng thẳng. Bà tham gia các cuộc họp báo, trả lời phỏng vấn, tham dự các hội nghị quốc tế với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao, đi khắp các châu lục tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp đấu tranh vì chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, chuẩn bị thông tin để đưa ra những đòn tấn công ngoại giao sắc bén cho cuộc đàm phán phía trước.
Có lần, một nhà báo phương Tây hỏi: “Bà có ở Đảng Cộng sản không?”. Bà nhanh nhẹn trả lời: “Tôi thuộc Đảng yêu nước”. Câu trả lời thông minh ấy đã khiến nhà báo kia phải cứng họng. Trong quá trình đàm phán, bà luôn tâm niệm: “Họ có quyền hỏi, mình có quyền trả lời. Nhưng trả lời thế nào để họ tâm phục khẩu phục, hiểu rõ hơn cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc mình, đó mới là điều quan trọng”.
Hoặc có lần, có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”.
Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?”. Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.
Sau nhiều nỗ lực, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Đây là vinh dự lớn lao trong cuộc đời hoạt động của bà, mỗi khi nhớ về sự kiện trọng đại này, bà vẫn tự hào: “Khi đặt bút ký vào bản hiệp định chiến thắng, nghĩ đến những đồng bào, đồng chí ngã xuống - những người không còn có thể biết được sự kiện trọng đại này, mắt tôi bỗng nhòe ướt.
Trong cuộc đời tôi, đây là vinh dự rất lớn vì được thay mặt nhân dân, các chiến sĩ cách mạng để đấu tranh trực diện với kẻ thù xâm lược ngay tại Paris, được đặt bút ký vào bản hiệp định chiến thắng sau 18 năm cả nước tiến hành cuộc chiến đấu chính nghĩa đầy hy sinh gian khổ… Đó có lẽ là kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời ngoại giao của tôi”.
Với Madame Bình, bà gọi công việc đó là “ngoại giao nhân dân”, nghĩa là con người đến với con người, trái tim đến với trái tim. Bà đem bạn bè về cho dân tộc. Và đấy là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ qua.



