BÀI HỌC NHỚ ĐỜI
Bài viết là hồi ký của một nữ cán bộ cách mạng quê Vĩnh Tế, Châu Đốc, tham gia hoạt động từ năm 1959 đến ngày miền Nam giải phóng năm 1975. Trong suốt 16 năm hoạt động bí mật giữa vùng địch kiểm soát, bà đã xây dựng nhiều cơ sở cách mạng, tổ chức mạng lưới liên lạc, vận động quần chúng và phát triển lực lượng ở Long Xuyên, Châu Phú, Bình Long, Mỹ Đức và các địa bàn lân cận. Nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà nhiều lần thoát khỏi các cuộc truy bắt nguy hiểm của địch, đồng thời xây dựng đượ
Tôi vừa lớn lên thì đất nước đã bị chia cắt làm hai miền. Miền Nam là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Riêng ở An Giang còn có lực lượng vũ trang đội lốt giáo phái cát cứ, tác oai, tác quái hoành hành, vì thế nhân dân An Giang bị một cổ hai tròng áp bức, lòng dân vô cùng căm phẫn, luôn hướng về phía cách mạng. Sau nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, những người cộng sản(1) được phép tổ chức lực lượng vũ trang đánh lại kẻ thù thì từ đó lực lượng ngày một lớn mạnh. Được nhân dân hết lòng ủng hộ, đóng góp sức người sức của, được hậu phương lớn miền Bắc chi viện toàn diện, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã giành thắng lợi, kết thúc vào ngày 30.4.1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Là người trong cuộc, kinh qua trên ba phần tư chiều dài của cuộc kháng chiến, ngẫm lại chặng đường chiến đấu gian khổ ấy mới thấy thấm thía lời Bác Hồ dạy:
Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong.
Sinh ra và lớn lên ở xóm Bà Bài, ấp Vĩnh Quí, xã Vĩnh Ngươn (nay là Vĩnh Tế) thị xã Châu Đốc. Quê tôi là xã vành đai thị xã lại giáp biên giới Campuchia nên luôn là điểm đầu cầu, bàn đạp cho lực lượng ta tiến công vào thị xã và nội địa. Cũng chính vì thế mà địch đánh phá liên tục, bom pháo vô cùng ác liệt. Gia đình tôi là cơ sở cách mạng, tôi là Đoàn viên Thanh lao từ năm 1959, công tác phụ nữ xã đến năm 1960 được kết nạp Đảng. Năm 1961, địch đánh phá cơ sở ác liệt, một số đảng viên, cơ sở bị giết, bị bắt. Cả gia đình tôi phải tản cư, lánh nạn về Tịnh Biên. Ở Tịnh Biên tôi tham gia hoạt động bất hợp pháp. Do gián đoạn công tác và không có người bảo lãnh, làm chứng nên năm 1963 chú Bảy Thà, Bí thư Huyện ủy kết nạp Đảng cho tôi lần thứ 2. Năm 1965, huyện rút về làm Phó ban Đấu tranh chính trị của huyện. Năm 1967, tỉnh rút lên làm Ủy viên Phụ nữ tỉnh, sau đó biệt phái đi công tác ở 2 xã vùng ven Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế. Gần tết 1968, tôi bám trụ nhà cơ sở ở gần hãng nước mắm Chánh Hưng, xã Mỹ Đức để phục vụ bộ đội tấn công vào thị xã Châu Đốc đợt 1, Mậu Thân. Hết đợt 1, tôi về Khánh Hòa bám trụ phục vụ cho đợt 2. Giữa năm 1969, tỉnh điều đi làm Thị ủy viên Long Xuyên. Ở đây tôi chủ yếu hoạt động đơn tuyến, liên lạc trực tiếp với chị Dương Thị Liên (Mười Liên), xây dựng được 3 cơ sở cách mạng khá vững. Sang năm 1971, tỉnh lại điều tôi về làm Huyện ủy viên Châu Phú. Được phân công bám trụ ở xã Bình Long phụ trách 4 xã: Bình Long, Bình Mỹ, Vĩnh Thạnh Trung và Mỹ Đức cho đến 30/4/1975.
Trong suốt 16 năm (1959-1975) tôi hoạt động chủ yếu ở cơ sở, hợp pháp công khai trong lòng địch. Nhờ căn cứ lòng dân, được dân nuôi chứa, hết lòng bảo vệ, che chở mà qua mắt địch, thoát hiểm trong gang tấc, hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao. Năm tháng bi hùng ấy tôi không thể nào quên và mỗi lần nhắc đến lại bồi hồi xúc động:
Thị xã Long Xuyên là trung tâm kinh tế - chính trị - quân sự vì vậy địch tập trung ở đây đủ các sắc lính. Các cở sở cách mạng bị chúng đánh tróc liên tục. Ta không thể đưa lực lượng vũ trang về đây hoạt động, vì vậy chúng huênh hoang đây là "thánh địa" của chúng. Được giao nhiệm vụ, tôi mang bụng bầu với hai bàn tay trắng đi tìm kiếm đầu mối bắt liên lạc để xây dựng cơ sở. Được tổ chức giới thiệu về chị tám Ngọc Hân, nhà ở xã Mỹ Phước làm nghề mụ, có chồng đi tập kết, là người tốt. Tôi tìm đến nhà chị, lấy cớ thăm thai làm quen. Qua vài lần tiếp xúc. Chị cảm mến, nhận nuôi chứa tôi trong nhà, tôi đã ở gần 2 năm và sanh cháu Kim Hồng ở đây. Nhà chị là trạm đầu tiên, là bàn đạp để tôi hoạt động và phát triển các cơ sở khác.
Sau khi ổn định chỗ ăn, chỗ ở tại nhà chị Tám, tôi lân la tiếp xúc xây dựng ông sáu X, nhà ở gần cầu Cái Sao, sau lưng trụ sở Hội đồng xã Mỹ Thới. Sau này ông là cơ sở nuôi chứa thứ hai và là trạm giao liên. Tiếp theo tôi xây dựng bà Trang nhà ở gần Bắc An Hòa, làm cơ sở thứ ba. Bà Trang có người cháu ruột làm trung úy Địa phương quân, nhà ở kế bên. Cậu này biết tôi là Việt Cộng nhưng cậu làm thinh vì vậy những lần tôi ở đây cậu là vỏ bọc rất an toàn. Nhờ 3 cơ sở này tôi đi lại hoạt động khá thuận lợi.
Thời gian này chị tám Thành (Lâm Thị Mai) làm Bí thư Thị ủy, trực tiếp phụ trách văn phòng 2 hoạt động hợp pháp. Lực lượng văn phòng 2 chủ yếu là nữ, có các chị mười Liên, ba Oanh, sáu Mỹ Tần, Việt Bích, tôi... Chúng tôi xác định lực lượng xung kích của thị xã là học sinh, sinh viên, trí thức. Phải sử dụng được lực lượng công khai này hoạt động thành phong trào như ở Sài Gòn đã làm để lôi kéo các tầng lớp khác. Nhân dịp LonNon đảo chính XiHaNúc, sát hại hàng loạt Việt kiều ở Campuchia, Thị ủy liền nêu khẩu hiệu "Máu" chảy ruột mền", phát động phong trào phản đối LonNon rộng khắp. Học sinh các trường Chưởng Binh Lễ, Thoại Ngọc Hầu... tổ chức mít tinh, đêm không ngủ và lồng vào nội dung lên án LonNon lên án luôn cả bọn Mỹ ngụy. Phong trào từng bước đạt kết quả rồi lên cao, kéo dài. Hàng ngàn quần chúng tham gia với nhiều khẩu hiệu mới "chống quân sự hóa học đường, chống đôn quân bắt lính, đuổi Mỹ về nước, đòi dân sinh, dân chủ...
Phong trào ở Long Xuyên đang khởi sắc và tôi cũng vừa trụ vững thì Tỉnh lại điều ngược trở về Châu Phú. Nhiệm vụ lần này là bám trụ hợp pháp ở Bình Long xây dựng cơ sở rồi phát triển rộng ra. Bình Long có chợ Cái Dầu một thị tứ đông dân, địch cũng tập trung ở đây dầy đặc, đủ loại. Đặc biệt, cơ quan đầu não của Lâm Thanh Nguyên (hai Ngoán...) đóng ở đây. Bọn giặc rất hung hãn, tổ chức càn quét, cướp bóc liên tục. Được tổ chức cho biết ở Bình Long có chị Bền là người tốt, có thể tranh thủ chị giúp đỡ. Một buổi tối tôi từ Long Xuyên tìm đến nhà chị. Qua trò chuyện, không ngờ chị sẵn sàng giúp đỡ, đồng ý để tôi dọn đến ở nhà chị, dần dà chị nhận làm luôn trạm liên lạc. Thế là tôi đã có bàn đạp để phát triển sang nơi khác. Chị nhiệt tình công tác nên một thời gian thử thách đã được kết nạp vào Đảng. Từ nhà chị Bền tôi lân la tìm hiểu và
quen được bà tư Hấn. Bà có em làm sỹ quan Ngụy và con trai làm cảnh sát nhưng bà lại hết lòng ủng hộ cách mạng. Tôi xây dựng nhà bà làm cơ sở nuôi chứa vì với mối quan hệ của bà như thế, ta ở rất an toàn.
Năm 1972, tôi dọn đến ở nhà bà Tư. Qua bà tôi móc được tư Kiên (Trần Văn Kiên), một cán bộ kháng chiến 9 năm nghỉ công tác đã lâu. Anh Tư nhận tiếp tục công tác và sau này anh được kết nạp Đảng. Sau anh Tư, tôi xây dựng được 1 loạt cờ sở nữa như chị Nết (vợ sáu Phú), chị tư Tịnh, bà sáu Mụ, anh năm Lứa (làm thầy giáo, nhà ở dưới cầu Phù Vật), cô bảy Hòa, bà sáu Trầm.... Đặc biệt bà sáu Trầm có hai em trai, một là anh Tâm Trung đã đi tập kết, hai là tám Ung. làm trưởng toán phòng vệ dân sự của xã. Thấy cơ hội tốt, tôi liền làm quen rồi vận động tám Ưng làm cơ sở cách mạng, cung cấp tình hình địch cho ta. Tám Ưng vui vẻ nhân lời và rất tích cực công tác. Tôi bàn với tấm Ứng tìm người và vũ khí để lập đội du kích mật cho xã. Cuối 1973, đội du kích mật được lập gồm tám Ung và hai anh Son, Xèn do tám Ưng làm đội trưởng. Đội này do một mình tôi nắm.
Bình Long đã có hơn chục cơ sở, phong trào đã mạnh lên, tôi đi xây dựng thêm cơ sở mới ở các xã khác, vì vậy phải đi lại nhiều và công việc cũng nặng nề hơn. Để rảnh tay công tác và bớt nguy hiểm cho con, tôi mang cháu Kim Hồng về nội ở xã Mỹ Đức gửi, tiện thể lấy có thăm con móc ráp xây dựng cơ sở mới ở đây. Ngoài cha chồng, cơ sở cách mạng từ trước, tôi bàn với sáu Liên (em chồng) xây dựng ở Mỹ Đức được hai Hoảnh, hai Vịnh (bà này có 1 con là liệt sỹ của ta, 1 con là cảnh sát), út Đạm... Ngoài ra ở Bình Hòa xây dựng được anh ba A làm tài xế xe hàng, ở Vĩnh Trung có sáu Thiết (Tô Văn Thiết), ở Bình Mỹ có thím Chẳng, chín Giỏi. Chị chín Giỏi là vợ út Liệt cán bộ kháng chiến nhưng anh ruột chị là tư Nghiệp làm Đồn trưởng Nghĩa quân đóng ở Vàm Xáng, sau này anh tư Nghiệp được giác ngộ cũng là cơ sở tốt của ta.
Địch bị thua đau trên các mặt trận nên điên cuồng đánh phá cơ sở cách mạng trong vùng chúng kiểm soất, vì biết rõ đây là lực lượng nội ứng cho lực lượng bên ngoài. Nhiều cơ sở của ta bị đánh tróc, nhiều cán bộ đảng viên bị bắt, tù đầy: Ở Long Xuyên chị tám Thành, năm Thọ bị bắt. Ở Châu Phú chỉ riêng địa bàn tôi phụ trách đã bị lộ và đánh tróc sáu cơ sở là sáu Thình, ba Hoảnh, sáu Phú, sáu Liên... Ngoài ra cũng do gian khổ ác liệt, chết chóc, một số cán bộ chiến sỹ ta chịu đựng không nổi ra chiêu hồi, khai báo, trở lại chỉ điểm đánh phá cách mạng, Địa bàn phụ trách rộng, tôi phải đi lại luôn, khi thì giả dạng người đi buôn bán, đi làm thuê, khi thì đi thăm bà con, tùy từng chỗ để đến ban ngày hay đêm, vì vậy đã không ít lần gặp nguy hiểm, nhiều lần thoát chết trong gang tấc.
Một lần tôi đang ở nhà sáu Liên, nghe báo động: tôi liền thoát ra thì địch ập tới vây ráp. May mắn tôi nhanh hơn chúng một chút xíu. Lần khác tôi tới nhà ông sáu Thiết, tính ở ít ngày. Mới 19 giờ, địch ập tới bắt, lấy lý do không khai báo với trưởng ấp. Chúng dẫn về Ty Chiêu hồi Châu Đốc. Rất may hôm ấy là thứ bảy, lại đã 25 Tết (âm lịch), bọn chiêu hồi về nhà cả, nếu không mẹ con tôi sẽ bị đánh chết ở dịp này vì bọn chúng biết rất rõ về tôi. Văn phòng ty chỉ có tên trực, hắn không biết tôi. Tôi kêu oan vô cớ bị bắt, chưa kịp báo trưởng ấp vì mới tới chơi... Thấy tôi bụng mang, đạ chửa lại ốm o, tiều tụy hắn động lòng trắc ẩn, cho tội về nhưng phải đóng phạt 250.000đ. Sẵn trong túi có tờ 500.000đ tôi đưa luôn cho hắn nhờ hắn làm giấy về cho nhanh còn tiền dư khỏi thối. Hắn mừng ra mặt, chưa đầy 5 phút đã giao giấy cho tôi. Mừng quá, tôi liền đi luôn ra đường, không dầm nhìn lại, kêu xe đông thẳng về Long Xuyên vào nhà ông Sáu ở Cái Sao lánh nạn. Đúng như tôi dự kiến, sáng sớm hôm sau chúng ập đến nhà ông sáu Thiết bao vây lùng bắt. Cay cú vì tôi chạy thoát, chúng bắt ông Sáu giam cầm hơn hai tháng mới thả.
Tôi sinh cháu Hồng Minh được hơn một năm thì chồng tôi - anh Lê Văn Chu (Bẩy Cường) Huyện đội trưởng Châu Phú đi học ở R mới về tới, vợ chồng đoàn tụ được hơn một tuần thì tôi lên đường đi bám cơ sở. Tháng 11.1974, trên đường đi điều nghiên chuẩn bị chiến dịch mùa khô anh bị địch phục kích hy sinh. Được tin dữ, tôi bàng hoàng đau đớn nhưng tình hình chiến trường lúc đó rất sôi động, công việc được giao nặng nề và nguy hiểm vì vậy đành phải gác chuyện buồn dành chỗ cho việc cách mạng. Giữa tháng 4.1975, tôi được triệu tập về cứ nhận nhiệm vụ. Huyện ủy phổ biến tinh thần chiến dịch Hồ Chí Minh, tóm tắt "huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã" bằng lực lượng tại chỗ. Đặt ra 3 phương án, một là nếu phát động quần chúng thuận lợi ta sẽ giải phóng toàn diện, hai là vừa đánh vừa giải phóng từng chỗ, ba là diễn ra chiến đấu ác liệt giành giật giữa ta và địch. Tôi là Bí thư xã, nếu ở phương án 3 thì xác định sẽ sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ. Anh Cường mới mất, giọt máu của anh để lại tôi nuôi dạy còn quá nhỏ. Nếu đi chiến đấu gửi con cho cơ sở, nếu lỡ hy sinh thì cơ sở làm sao biết nội cháu ở đâu mà giao. Mang theo thì tuyệt nhiên không được. Trong cứ lúc này có các chị năm Mới, chín Thấng, năm Lệ. Thấu hiểu nỗi băn khoăn lo lắng của tôi, chị năm Lệ nhận giữ cháu Minh, ra khỏi cứ một đoạn còn nghe tiếng con khóc theo mẹ, lòng tôi rối bời nhưng phải ráng dằn để lên đường làm nhiệm vụ.
Ra tới Bình Long, tôi liền mở cuộc họp kín ở nhà bà tư Hấn để thành lập Chi bộ xã. Tôi làm Bí thư, đảng viên có tư Kiên, bảy Hòa và chị Bền. Củng cố đội du kích mật và các cơ sở... Những ngày cuối tháng 4, tin thắng trận khắp nơi dồn dập nhưng ở Cái Dầu địch vẫn quá đông, ngày đêm lùng sục đánh phá cách mạng. Lực lượng vũ trạng tỉnh không thấy tin tức gì, vì vậy lực lượng tại chỗ chúng tôi phân công nhau mỗi người một việc, chuẩn bị sẵn sàng đón thời cơ lãnh đạo nhân dân nhất tề xông lên khi cho phép.
Ngày 30.4.1975, tin Dương Văn Minh đầu hàng, Sài Gòn đã giải phóng, toàn bộ hệ thống Ngụy quân, Ngụy quyền hoang mang, lục đục tan rã. Trong khi đó, bọn Bảo an quân lấy tổng hành dinh của hai Ngoán ở Cái Dầu làm cứ điểm tập trung quân các nơi chạy về, tổ chức lực lượng phản kích lại ta. 8giờ sáng ngày 1.5.1975, địch tập trung tàn quân Ngụy và 300 Bảo an quân do tám Thông (em hai Ngoán) chỉ hủy, có 3 xe thiết giáp, 4 xe GMC đánh lên Mỹ Đức bị ta chặn lại. Sáng ngày 2.5, chị Hân cắm cờ ở trụ sở xã bị lính tám Thông giựt mất; đến trưa quân ta từ Châu Đốc đánh xuống, Châu Thành đánh lên chúng mới chịu bỏ chạy tứ tán. Anh tám Ung chỉ huy đu kích cùng anh tư Kiên đi gom súng ở Bình Long, Súng mang về chất đầy nửa gian đình. Thế là Bình Long, Bình Mỹ... nói riêng, toàn huyện Châu Phú nói chung đã hoàn toàn giải phóng. Tôi làm Bí thư Bình Long, anh tư Kiên - Trưởng ban Quân quản, chị bảy Hòa lo dân vận, chị Bền lo hậu cần, anh tám Ưng phụ trách du kích lo an ninh trật tư...
Năm tháng qua mau, mới đó đã 30 năm. Ba mươi năm qua tôi bận trăm công ngàn việc, ngoài chuyện gia đình, con cái, chuyện học hành nâng cao trình độ kiến thức tôi còn được giao làm bí thư huyện ủy ba khóa liên tiếp cho đến ngày nghỉ hưu. Vậy mà những sự kiện, sự việc và con người năm xưa vẫn in đậm trong ký ức. Nhân dịp đầu năm tôi kể lại chuyện này không phải để kể thành tích, công lao... mà chỉ muốn gửi gắm nhắc nhở với em cháu sau này, những người không được vinh dự tham gia kháng chiến cứu nước, về bài học lấy đân làm gốc của Đảng, Bác Hồ. Không có dân, ta chẳng làm được gì chứ đừng nói cá nhân tôi, chỉ là 1 hạt cát trong sa mạc. Bác Hồ dạy: "Sức dân như sức nước, nước nâng thuyền và đẩy thuyền trôi nhưng nước cũng làm lật thuyền ".
Với gần 50 năm hoạt động cách mạng và 42 năm tuổi Đảng đủ cho tôi hiểu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại đến mức nào.



