Bài thơ “Bắn! Bắn!”
Bài thơ “Bắn! Bắn!”Đến với Bảo tàng Hải quân khách tham quan không khỏi xúc động và cảm phục khi đọc bài thơ “Bắn! Bắn!” đang được trưng bày tại phần Hải quân tham gia chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ (1965-1972).
Bài thơ “Bắn bắn” của ông Lê Ngọc Thành sáng tác ngày 27 tháng 5 năm 1965 để ca ngợi nữ dân quân Nam Ngạn, Thanh Hóa là chị Lê Kim Dung. Chị đã xung phong tham gia tiếp đạn cho tàu T120 Hải quân chiến đấu bảo vệ cầu Hàm Rồng và hy sinh anh dũng ngày 26 tháng 5 năm 1965. Ông Lê Ngọc Thành là cha đẻ chị Lê Kim Dung. Qua bài thơ ông đã thay lời em gái chị Dung ca ngợi lòng dũng cảm của chị và hứa sẽ chiến đấu trả thù cho chị: Chị ngã còn thét vang “Bắn! Bắn!” Đồng chí ơi! Nhằm bắn đi cho chúng nó tan thây. Những năm 1965 - 1972, bị thất bại liên tiếp tại chiến trường miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ liên tục thực hiện các chiến lược "Chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hoá chiến tranh" ở miền Nam; đồng thời, mở rộng chiến tranh leo thang bắn phá miền Bắc nước ta bằng không quân và hải quân. Đế quốc Mỹ đã mở các chiến dịch “Mũi lao lửa”, “Sấm rền” đưa máy bay đánh phá ác liệt miền Bắc nước ta, với âm mưu: Phá huỷ tiềm lực kinh tế, quốc phòng của miền Bắc; ngăn chặn sự chi viện về sức người, sức của hậu phương miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam và ngăn chặn sự giúp đỡ, chi viện của quốc tế cho cách mạng Việt Nam. Mục tiêu đánh phá là các thành phố lớn, các khu công nghiệp, các đầu mối giao thông quan trọng… Ngoài ra, chúng còn mở chiến dịch mang tên “Rồng biển”, dùng tàu chiến lớn bắn phá ác liệt dải bờ biển Khu 4, với tổng chiều dài hơn 500km nhằm ngăn chặn vận tải biển và bắn phá các mục tiêu quân sự ven biển của miền Bắc Việt Nam. Trong đó, các căn cứ, kho tàng của Hải quân nhân dân Việt Nam là một trong những địa điểm đánh phá ác liệt của địch. 
Dân quân Nam Ngạn, Thanh Hóa tiếp tế cho tàu hải quân bảo vệ cầu Hàm Rồng, năm 1965. Ảnh tư liệu BTHQ. Bài thơ ra đời một ngày sau khi chị Dung cùng đồng đội hy sinh. Chỉ một trang giấy viết tay bằng bút mực, qua năm tháng nó đã bị rách, ố vàng, nhưng nỗi đau chiến tranh, lòng căm thù giặc sâu sắc và tình yêu quê hương đất nước vẫn còn nguyên vẹn. …Dòng Mã giang nơi ấy em nhớ mãi ngàn thu Là nơi chị chiến đấu với quân thù Bàn tay chị nhẹ như ru băng bó Cho các đồng chí thương binh đẫm máu đỏ Trông vết thương càng rõ nỗi căm hờn… “Nơi chị chiến đấu” là vùng đất Thanh Hóa có dòng sông Mã thân thương. Sau những ngày oanh tạc vùng Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và bị các lực lượng ta phản kích quyết liệt, trong đó, tàu T120 Hải quân ta bị chúng tập kích nhiều lần nhưng không thành công, ngược lại chúng còn bị thiệt hại năng nề. Đến ngày 21/5/1965, tàu T120 Hải quân cơ động vào Phú Mỹ, Lạch Trường (Thanh Hóa) để chiến đấu thì bị máy bay địch phát hiện. Hàng loạt máy bay F-101, F-105 gào rú thay nhau công kích, một số anh em trên tàu bị thương và hy sinh; lực lượng ứng cứu lúc này không ai khác chính là dân quân, trong đó có chị Lê Kim Dung. Chị băng bó vết thương và chăm sóc thương binh bằng chính “nỗi căm hờn” của mình. Rồi một ngày: Lòng dũng cảm chí khí Chị không sờn Giương băng đạn càng hăng hơn bệ pháo Để đồng chí mình diệt tan quân tàn bạo Giặc nhà trời tan xác mới cam tâm Giữa trời quê, giặc lồng lộn thét gầm Dưới tàu chiến lửa hờn căm lên ngùn ngụt.
Bài thơ “Bắn! Bắn!” được trưng bày tại Bảo tàng Hải quân. Ảnh Thanh Hằng. Ngày 26/5/1965, từ 13 giờ đến 16 giờ, nhiều máy bay Mỹ đến oanh tạc 4 đợt vào tàu T120 với đủ các loại bom đạn. Được nhiều trận địa hỏa lực trên bờ của bộ đội và dân quân phối hợp yểm trợ, tập thể thủy thủ đã dũng cảm khéo kết hợp cơ động lên Nam Ngạn và sử dụng hỏa lực, bẻ gãy các đợt tấn công của địch, giữ an toàn cho tàu đồng thời chuyển các thương binh, liệt sỹ lên bờ. Trong đợt chiến đấu cuối chiều, đồng chí Nguyễn Hữu Trường, khẩu đội trưởng pháo 37mm đã cùng khẩu đội bắn rơi nhiều máy bay địch. Một mảnh đạn làm anh bị thương. Đây là vết thương thứ ba, máu ra nhiều buộc anh phải rời vị trí, mất một số pháo thủ già dặn kinh nghiệm, hỏa lực của tàu yếu dần. Đang lúc khó khăn, chị Lê Kim Dung cùng hai mươi nam nữ dân quân thuộc Trung đội Tiểu khu Nam Ngạn thị xã Thanh Hóa đang phục vụ tiếp đạn đã xuống tàu xung phong ở lại chiến đấu thay thế các pháo thủ. Là những người con của vùng đất Nam Ngạn nổi tiếng chiến đấu anh dũng, kiên cường góp phần vào chiến thắng đầu tiên ngày 3 và 4/4/1965 của Thanh Hóa. Với lòng căm thù giặc sâu sắc, hết lòng yêu quý các chiến sĩ hải quân dũng cảm, chị cùng đồng đội đã trở thành lực lượng hậu bị đắc lực cho tàu T120. Các chị đã quên mình để bảo vệ tàu, bảo vệ quê hương, đất nước. Phút cuối cùng là phút chị bị thương. Hiên ngang thay! Trong khói lửa chiến trường… Chị đã ngã còn thét vang “Bắn! Bắn!” Đồng chí ơi! Nhắm bắn đi cho chúng nó tan thây Máy bay thù loạng choạng cháy trong mây… “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, nhờ học cách sử dụng pháo từ trước lại được các chiến sĩ ta hướng dẫn tại chỗ nên các “chiến sĩ gái” Nam Ngạn đã nhanh chóng sử dụng thành thạo máy móc, trang thiết bị, vũ khí trên tàu tiếp tục đánh địch. Đường đạn hiệp đồng của bộ đội phòng không và những người con trai, con gái Nam Ngạn đã hạ liên tiếp hai “thần sấm” Mỹ, xác của nó rơi xuống dòng Lạch Trào. Tàu T120 được những con người dũng cảm bảo vệ, địch không đánh chìm được tàu ta mà còn mất 5 máy bay trong trận đọ sức mà chúng có nhiều ưu thế. Đây là hình ảnh thu nhỏ của thế trận chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh của cả ba thứ quân, cả lực lượng trên bờ và dưới nước cùng đánh địch, làm thất bại cuộc tập kích bằng không quân của đế quốc Mỹ vào tỉnh Thanh Hóa.
Tàu T120 đánh máy bay Mỹ bảo vệ cầu Hàm Rồng, năm 1965. Ảnh tư liệu Chị đã hiên ngang chiến đấu như vậy và anh dũng hy sinh để lại sự căm phẫn cho anh em và đồng đội, đặc biệt là gia đình. Ông Lê Ngọc Thành đã mất một người con thân yêu, dũng cảm. “Máu chảy ruột mềm” chiến tranh đã làm con người ta thêm rắn rỏi. Đọc bài thơ chúng ta thấy những hy sinh mất mát không làm họ lùi bước mà ngược lại càng khơi dậy, thổi bùng mạnh mẽ lòng căm thù hơn bao giờ hết. Còn chiến đấu em quyết trả thù cho chị …Chị hy sinh mà lệ thù em chan chứa Khẩu súng trường em xin hứa chị Dung ơi! Biết bao thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu cho sự bình yên của Tổ quốc hôm nay. Bài thơ là tư liệu lịch sử quý giá để thế hệ trẻ thêm hiểu, tự hào và học tập được tinh thần chiến đấu kiên cường, sự hy sinh của các thế hệ đi trước, từ đó thêm trân trọng và sống có trách nhiệm với thành quả đang có. Chúng tôi, những người làm công tác bảo tàng đã kể cho khách tham quan những câu chuyện về nhiều tấm gương hy sinh dũng cảm các thế hệ cha anh. Nhưng khi kể câu chuyện về bài thơ “Bắn! Bắn!”, ai cũng nghẹn ngào xúc động./.Lê Thanh Hằng – Bảo tàng Hải quân

Dân quân Nam Ngạn, Thanh Hóa tiếp tế cho tàu hải quân bảo vệ cầu Hàm Rồng, năm 1965. Ảnh tư liệu BTHQ. Bài thơ ra đời một ngày sau khi chị Dung cùng đồng đội hy sinh. Chỉ một trang giấy viết tay bằng bút mực, qua năm tháng nó đã bị rách, ố vàng, nhưng nỗi đau chiến tranh, lòng căm thù giặc sâu sắc và tình yêu quê hương đất nước vẫn còn nguyên vẹn. …Dòng Mã giang nơi ấy em nhớ mãi ngàn thu Là nơi chị chiến đấu với quân thù Bàn tay chị nhẹ như ru băng bó Cho các đồng chí thương binh đẫm máu đỏ Trông vết thương càng rõ nỗi căm hờn… “Nơi chị chiến đấu” là vùng đất Thanh Hóa có dòng sông Mã thân thương. Sau những ngày oanh tạc vùng Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và bị các lực lượng ta phản kích quyết liệt, trong đó, tàu T120 Hải quân ta bị chúng tập kích nhiều lần nhưng không thành công, ngược lại chúng còn bị thiệt hại năng nề. Đến ngày 21/5/1965, tàu T120 Hải quân cơ động vào Phú Mỹ, Lạch Trường (Thanh Hóa) để chiến đấu thì bị máy bay địch phát hiện. Hàng loạt máy bay F-101, F-105 gào rú thay nhau công kích, một số anh em trên tàu bị thương và hy sinh; lực lượng ứng cứu lúc này không ai khác chính là dân quân, trong đó có chị Lê Kim Dung. Chị băng bó vết thương và chăm sóc thương binh bằng chính “nỗi căm hờn” của mình. Rồi một ngày: Lòng dũng cảm chí khí Chị không sờn Giương băng đạn càng hăng hơn bệ pháo Để đồng chí mình diệt tan quân tàn bạo Giặc nhà trời tan xác mới cam tâm Giữa trời quê, giặc lồng lộn thét gầm Dưới tàu chiến lửa hờn căm lên ngùn ngụt.

Bài thơ “Bắn! Bắn!” được trưng bày tại Bảo tàng Hải quân. Ảnh Thanh Hằng. Ngày 26/5/1965, từ 13 giờ đến 16 giờ, nhiều máy bay Mỹ đến oanh tạc 4 đợt vào tàu T120 với đủ các loại bom đạn. Được nhiều trận địa hỏa lực trên bờ của bộ đội và dân quân phối hợp yểm trợ, tập thể thủy thủ đã dũng cảm khéo kết hợp cơ động lên Nam Ngạn và sử dụng hỏa lực, bẻ gãy các đợt tấn công của địch, giữ an toàn cho tàu đồng thời chuyển các thương binh, liệt sỹ lên bờ. Trong đợt chiến đấu cuối chiều, đồng chí Nguyễn Hữu Trường, khẩu đội trưởng pháo 37mm đã cùng khẩu đội bắn rơi nhiều máy bay địch. Một mảnh đạn làm anh bị thương. Đây là vết thương thứ ba, máu ra nhiều buộc anh phải rời vị trí, mất một số pháo thủ già dặn kinh nghiệm, hỏa lực của tàu yếu dần. Đang lúc khó khăn, chị Lê Kim Dung cùng hai mươi nam nữ dân quân thuộc Trung đội Tiểu khu Nam Ngạn thị xã Thanh Hóa đang phục vụ tiếp đạn đã xuống tàu xung phong ở lại chiến đấu thay thế các pháo thủ. Là những người con của vùng đất Nam Ngạn nổi tiếng chiến đấu anh dũng, kiên cường góp phần vào chiến thắng đầu tiên ngày 3 và 4/4/1965 của Thanh Hóa. Với lòng căm thù giặc sâu sắc, hết lòng yêu quý các chiến sĩ hải quân dũng cảm, chị cùng đồng đội đã trở thành lực lượng hậu bị đắc lực cho tàu T120. Các chị đã quên mình để bảo vệ tàu, bảo vệ quê hương, đất nước. Phút cuối cùng là phút chị bị thương. Hiên ngang thay! Trong khói lửa chiến trường… Chị đã ngã còn thét vang “Bắn! Bắn!” Đồng chí ơi! Nhắm bắn đi cho chúng nó tan thây Máy bay thù loạng choạng cháy trong mây… “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, nhờ học cách sử dụng pháo từ trước lại được các chiến sĩ ta hướng dẫn tại chỗ nên các “chiến sĩ gái” Nam Ngạn đã nhanh chóng sử dụng thành thạo máy móc, trang thiết bị, vũ khí trên tàu tiếp tục đánh địch. Đường đạn hiệp đồng của bộ đội phòng không và những người con trai, con gái Nam Ngạn đã hạ liên tiếp hai “thần sấm” Mỹ, xác của nó rơi xuống dòng Lạch Trào. Tàu T120 được những con người dũng cảm bảo vệ, địch không đánh chìm được tàu ta mà còn mất 5 máy bay trong trận đọ sức mà chúng có nhiều ưu thế. Đây là hình ảnh thu nhỏ của thế trận chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh của cả ba thứ quân, cả lực lượng trên bờ và dưới nước cùng đánh địch, làm thất bại cuộc tập kích bằng không quân của đế quốc Mỹ vào tỉnh Thanh Hóa.

Tàu T120 đánh máy bay Mỹ bảo vệ cầu Hàm Rồng, năm 1965. Ảnh tư liệu Chị đã hiên ngang chiến đấu như vậy và anh dũng hy sinh để lại sự căm phẫn cho anh em và đồng đội, đặc biệt là gia đình. Ông Lê Ngọc Thành đã mất một người con thân yêu, dũng cảm. “Máu chảy ruột mềm” chiến tranh đã làm con người ta thêm rắn rỏi. Đọc bài thơ chúng ta thấy những hy sinh mất mát không làm họ lùi bước mà ngược lại càng khơi dậy, thổi bùng mạnh mẽ lòng căm thù hơn bao giờ hết. Còn chiến đấu em quyết trả thù cho chị …Chị hy sinh mà lệ thù em chan chứa Khẩu súng trường em xin hứa chị Dung ơi! Biết bao thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu cho sự bình yên của Tổ quốc hôm nay. Bài thơ là tư liệu lịch sử quý giá để thế hệ trẻ thêm hiểu, tự hào và học tập được tinh thần chiến đấu kiên cường, sự hy sinh của các thế hệ đi trước, từ đó thêm trân trọng và sống có trách nhiệm với thành quả đang có. Chúng tôi, những người làm công tác bảo tàng đã kể cho khách tham quan những câu chuyện về nhiều tấm gương hy sinh dũng cảm các thế hệ cha anh. Nhưng khi kể câu chuyện về bài thơ “Bắn! Bắn!”, ai cũng nghẹn ngào xúc động./.Lê Thanh Hằng – Bảo tàng Hải quân



