BẢN HÙNG CA CỦA LÒNG NHÂN ÁI
Chiến tranh đã đi xa, tất cả mọi chuyện như đã chìm vào quá khứ nhưng hơn 50 năm trôi qua vẫn không thể xóa nhòa vẻ đẹp, tấm lòng của một con người là một nữ bác sĩ, những dòng nhận ký về cuộc đời của bà. Để rồi những người lính mỹ vô tình lật qua những trang viết về chị, họ kính phục, trang trọng và gìn giữ để chị sống mãi trong lòng người dân Việt Nam, trong những trái tim yêu chuộng hòa bình.
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, sinh ra tại Huế nhưng lại lớn lên ở Hà Nội trong một gia đình tri thức. Năm 1958 chị cùng gia đình chuyển từ Huế ra Hà Nội, chị học cấp 3 ở trường Chu Văn An và là học sinh xuất sắc của trường.
- Năm 1961 nối nghiệp gia đình bà thi đỗ vào đại học y Hà Nội chuyên khoa mắt. Sau khi tốt nghiệp y khoa Hà Nội, năm 1966 với kết quả học tập loại ưu, bà có thể tìm cho mình một công việc theo đúng ngành nghề. Nhưng theo tiếng gọi thiêng liêng của miền Nam ruột thịt, người con gái Hà Nội ấy đã xung phong vào miền Nam nơi những chiến sĩ của ta đang chiến đấu ác liệt nhất, anh dũng nhất.
- Sau hơn 3 thánh hành quân, tháng 3/1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công vào phụ trách trại xá Đức Phổ một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều bị cho các thương bệnh binh .
- Chị được kết nạp vào đảng cộng sản Việt nam 27/9/1968 với lí tưởng sống đã chọn, Đặng Thùy Trâm đã lao vào công việc với một nghị lực phi thường, là người phụ trách bệnh xá huyện Đức Phổ Quảng Ngãi thực chất là một bệnh xá tiềm phương, chị đã lăn xả và cứu chữa thương binh, chăm sóc thương binh, tổ chức cho đơn vị di chuyển thương binh di chuyển địa điểm. Giữa một vùng đất hẹp đầy bom đạn và hàng ngàn dấu giày của những tên lính xâm lược chị đã kiên cường, bám trụ trong nhiều năm.
- Ngày 22/6/1970 trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
- Hai cuốn nhật ký của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm là những dòng tâm sự chân thực viết từ ngày 8/4/1968 đến 20/6/1970 tại chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi. Sau 35 năm lưu lạc ở Mỹ, tài liệu này được trả về Việt Nam vào năm 2005, trở thành biểu tượng tinh thần kiên cường, yêu đời của thế hệ trẻ thời chiến.


