Anh hùng Lực lượng vũ trang

Bản hùng ca của một Đại tướng huyền thoại - Võ Nguyên Giáp

Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; từ trần ngày 4 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội, hưởng thọ 103 tuổi. Cuộc đời ông gắn liền với những bước ngoặt lớn lao của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, từ những ngày đầu thành lập lực lượng vũ trang cách mạng cho đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

25/02/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, tuổi thơ của Võ Nguyên Giáp sớm in dấu những mất mát do chế độ thực dân gây nên. Cha ông bị thực dân Pháp bắt giam và mất trong tù, người chị ruột cũng hy sinh vì cách mạng. Những biến cố ấy đã hun đúc trong lòng chàng thanh niên xứ Quảng ý chí đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.

Những năm 1930, ông tham gia phong trào cách mạng, từng bị bắt và giam giữ. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động bí mật, rồi sang Trung Quốc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính tại đây, Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng vũ trang. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời do ông trực tiếp chỉ huy. Chỉ ít ngày sau khi thành lập, đội đã giành thắng lợi trong hai trận Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu truyền thống đánh thắng của quân đội cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước vừa giành được độc lập thì phải đối mặt với cuộc xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh lực lượng còn non trẻ, vũ khí thiếu thốn, Võ Nguyên Giáp được giao trọng trách Tổng Chỉ huy quân đội. Ông cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ với niềm tin “nhất định thắng lợi”.

Năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến. Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo quân dân ta đánh bại cuộc hành quân này, bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng. Từ đó, thế trận kháng chiến dần chuyển biến có lợi cho ta.

Năm 1950, trong Chiến dịch Biên giới, ông chỉ huy quân ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng một dải biên giới rộng lớn, mở đường giao thông với quốc tế, tạo bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến. Sau đó là hàng loạt chiến dịch lớn như Trung Du, Đồng Bằng, Hòa Bình… từng bước làm suy yếu quân Pháp.

Đỉnh cao trong sự nghiệp cầm quân của Võ Nguyên Giáp là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trước một tập đoàn cứ điểm mạnh được xây dựng kiên cố, ban đầu phương án tác chiến dự kiến đánh nhanh, giải quyết nhanh. Tuy nhiên, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng tương quan lực lượng và điều kiện thực tế, ông đã đưa ra quyết định lịch sử: chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Đó là một quyết định khó khăn, thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của người chỉ huy tối cao.

Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đào hào, kéo pháo, chiến đấu trong mưa bom bão đạn. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của đối phương, kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng ấy buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Tên tuổi Võ Nguyên Giáp từ đó vang dội trên trường quốc tế.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời chia cắt. Ở miền Bắc, Võ Nguyên Giáp chỉ đạo xây dựng quân đội chính quy, hiện đại; củng cố lực lượng phòng không – không quân bảo vệ bầu trời Tổ quốc trước chiến tranh phá hoại. Ở miền Nam, ông cùng Bộ Chính trị hoạch định đường lối chiến tranh nhân dân, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ông tham gia chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường. Đặc biệt năm 1975, khi thời cơ chiến lược xuất hiện, ông cùng Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân. Từ chiến dịch Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thắng lợi diễn ra liên tiếp, kết thúc bằng ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất.

Năm 1948, khi mới 37 tuổi, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng – vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1976, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Dù giữ trọng trách cao nhất trong quân đội, Võ Nguyên Giáp luôn sống giản dị, khiêm nhường, gần gũi với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Ông thường nhấn mạnh rằng sức mạnh của quân đội bắt nguồn từ nhân dân, từ chính nghĩa và lòng yêu nước.

Cuộc đời hơn một thế kỷ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bản anh hùng ca của trí tuệ, bản lĩnh và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc. Tên tuổi ông gắn liền với những chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn