Bản lĩnh nhà lãnh đạo và quyết định hoãn Khởi nghĩa Nam Kỳ
háng 11 năm 1940, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định phát động cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ. Lúc này, Phan Bội Châu đã qua đời, còn Phan Đăng Lưu đang là Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Phân tích tình hình thực tế, ông nhận thấy thời cơ khởi nghĩa chưa chín bồi: lực lượng địch còn rất mạnh, sự phối hợp giữa các địa phương chưa chặt chẽ và nguy cơ bị tổn thất lớn là rất rõ ràng. Với trách nhiệm của một nhà lãnh đạo tầm vóc, ông đã ra Bắc dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 tại Đình Bảng (Bắc Ninh) để xin ý kiến chỉ đạo.
Tại Hội nghị, Trung ương Đảng hoàn toàn nhất trí với nhận định của Phan Đăng Lưu và quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ để bảo toàn lực lượng. Ngay sau hội nghị, ông lập tức quay trở lại Miền Nam để truyền đạt lệnh hoãn khởi nghĩa của Trung ương. Đây là một chuyến đi vô cùng mạo hiểm khi mật thám Pháp đang giăng lưới dày đặc ở mọi tuyến đường. Lòng dũng cảm và tinh thần trách nhiệm với xương máu của đồng chí, đồng bào đã thôi thúc ông dấn thân vào nguy hiểm.
Trớ trêu thay, khi vừa đặt chân đến Sài Gòn vào đêm 22 tháng 11 năm 1940, Phan Đăng Lưu bị mật thám Pháp phục kích bắt giữ. Lệnh hoãn chưa kịp truyền đi, cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ vào đêm hôm sau và bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Trong tù, ông bị tra tấn bằng những đòn thù tàn bạo nhất nhưng vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đã đưa Phan Đăng Lưu ra bắn tại Hóc Môn (Gia Định). Sự hy sinh của ông là tổn thất to lớn, nhưng tấm gương kiên trung, trí tuệ và sự tận tụy đến hơi thở cuối cùng của Phan Đăng Lưu mãi mãi tỏa sáng trong lịch sử cách mạng Việt Nam.



