Bài viết

Bản tin đoàn tụ

Chiến tranh và sự phản bội trong tình yêu, đâu là điều kinh khủng nhất? Buồn thay, gia đình tôi đã phải đối mặt với cả hai điều này gần như cùng lúc, để giờ đây tôi càng biết trân trọng hòa bình.

Ninh Bình29/04/2026Phạm Tuyết Nhung (Đoàn xã Khánh Hội)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những ngày tháng đầu năm 1954 ấy, thật nhiều biến cố đã đến với đất nước và gia đình tôi. Sau Hiệp định Geneva, miền Bắc và miền Nam bị chia cắt thành hai bờ Bến Hải. Điều đó thì tận mãi sau này tôi mới biết. Bởi vì năm 1954, tôi mới lên 3.

Đầu năm 1954, giận chồng là một nhân viên Nhà đèn Chợ Quán, bà nội đưa 3 anh em chúng tôi ra Bắc. Ông nội đã có tình cảm với một cô gái Hoa kiều trẻ, và bà đã cay đắng trả thù bằng cách đưa cả 3 đứa cháu nội về quê hương Ninh Bình.

Bà không thể ngờ rằng chuyến đi đó đã chia cắt bà với miền Nam, nơi có chồng, con trai, con dâu, đến tận hơn 20 năm sau.

"Bố mẹ của cháu ở đâu?", "Bao giờ chúng cháu mới được gặp bố mẹ?"... Đó là những câu tôi thường hỏi bà khi còn nhỏ. Tôi, đứa con gái duy nhất trong 3 anh em. Anh trai tôi năm ấy 6 tuổi, tôi lên 3 và em trai tôi mới tròn 1 tuổi.

Bà nội sẽ thường lảng tránh câu hỏi thứ hai, bởi vì bà không biết, và gần như không ai biết, rằng bao giờ tôi mới được gặp lại mẹ cha. Có lẽ nỗi buồn giận vì sự phản bội của ông đã giữ bà lại quê hương, và ông bà tôi đã lìa xa nhau, mãi mãi.

Rồi tôi lớn lên trong lòng miền Bắc. Sau bao lần dời đổi vì sinh kế, bà cháu tôi trôi dạt lên tận dốc Kun, Hòa Bình.

Năm 1965, khi chưa đầy 15 tuổi, tôi đã khai rằng mình sinh năm 1947, tên là Tạ Thị Mai, để được nhận vào làm nhân viên trong Ty lương thực tỉnh Hòa Bình. Đó là công việc trong mơ đối với nhiều cô gái trẻ lúc ấy. Thực ra tôi sinh năm 1951, tên khai sinh là Tạ Hoàng Ngọc Mai.

Tôi lập gia đình và sinh con đầu lòng, vẫn không nguôi nghĩ đến ngày đoàn tụ. Bà nội và các anh em tôi cũng thế. Bởi vậy, ngày hòa bình, ngày thống nhất đối với chúng tôi là một khát khao cháy bỏng, lúc nào cũng đau đáu trong tim.

Với một phụ nữ như tôi, sự thiếu vắng tình mẹ càng cần được bù đắp hơn ai hết. Và bà nội tôi cũng xiết bao mong mỏi được gặp lại đứa con trai duy nhất của mình.

Tận chiều 30-4-1975, tôi mới nghe được bản tin chiến thắng trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Cả cơ quan tôi và cả miền Bắc vỡ òa trong niềm vui thống nhất. Riêng tôi, giọt lệ mừng vì sắp được đoàn tụ với mẹ cha hết vơi lại đầy.

Tôi được ưu tiên đi trên một trong những chuyến tàu thủy đầu tiên từ cảng Hải Phòng trở lại Sài Gòn. Vượt bao khó khăn, tôi cũng liên lạc được với mẹ.

Mẹ bảo mẹ sẽ cầm một tấm bảng lớn, trên đó có ghi tên anh trai tôi Tạ Tuấn Thành, để tôi nhận ra mẹ trong biển người. Thật cay đắng là chúng tôi không biết mặt nhau.

Lúc đó vào tầm tháng 7-1975, tôi đang có mang đứa con thứ hai. Sau vài ngày trên biển, tàu cập cảng Sài Gòn (bến Bạch Đằng ngày nay). Chiếc tàu thủy hú một hồi còi dài báo tin đã dừng, nhưng chưa ai được xuống. Tôi nhớ phải 2 tiếng sau, người trên tàu mới lần lượt rời khỏi boong.

Tôi đã nhận ra mẹ từ xa, người đứng dưới một gốc cây, cầm tấm biển lớn như quy ước giữa chúng tôi. Vả chăng tôi đã nhìn thấy mẹ hàng nghìn lần trong những giấc mơ thơ ấu, và tấm ảnh cha mẹ mà bà nội mang theo hơn 20 năm trước đã trợ giúp tôi.

Chúng tôi bật khóc trong tay nhau, buồn vui lẫn lộn. Rồi mẹ kể tôi nghe, ông nội đã cùng với người phụ nữ năm ấy đi mãi không về. Cha tôi cũng bỏ đi vào năm 1960, để lại cậu em út còn đỏ hỏn cho mẹ.

Mẹ sống ở xóm Chùa, chợ Tân Định. Năm ấy, khi đất nước hòa bình và chúng tôi được đoàn tụ cùng nhau thì em út tôi 15, mẹ tôi đã ngoài 50 tuổi.

Tôi trấn an mẹ, rằng giờ đây tôi sẽ trở thành trụ cột. Tôi là người con của vùng đất hòa bình, sẽ mang lại cuộc sống bình yên. Khi về Nam cùng mẹ, chúng tôi đã dùng 2 loại tiền riêng đến tận đầu tháng 2-1978, khi ấy cả nước mới có đồng tiền thống nhất.

Tôi ở thăm mẹ chỉ được ít lâu, lo liệu ổn định cho bà rồi phải quay về Hòa Bình với công việc và chồng con, với cả bà nội nay đã già yếu lắm. Nghe tin không vui về ông nội và cha tôi, chẳng biết trong lòng bà nghĩ gì.

Bà cũng như anh em tôi, đã luôn hướng về miền Nam trong những năm dài xa cách. Tôi biết rằng mình sẽ nặng gánh hơn vì phải lo cho mẹ già và em trai, nhưng tôi cũng mừng vui vì nay đã sắp được gần bên mẹ.

Cuối năm 1978, tôi mới được chuyển vào miền Nam, chỉ còn cách mẹ 30 cây số. Ngày ấy đi lại khó khăn, nếu ở Hòa Bình thì vài năm tôi mới được gặp mẹ một lần. Các anh em trai tôi và bà nội cũng lần lượt quay về, bởi Bắc Nam đã hoàn toàn thống nhất.

Thời ấy cuộc sống cũng khó khăn. Tôi và các anh em đều rất chật vật. Tuy vậy, chúng tôi vẫn cảm nhận sự bình yên vì chúng tôi được gần bên mẹ.

Thật lạ là mẹ đã không giận bà nội. Mẹ vẫn chăm sóc bà cho đến khi bà mất. Có lẽ sự cảm thông đã khiến nỗi buồn giận tiêu tan. Mẹ và bà đều là những phụ nữ không may, những người bị phản bội.

Chuyện hòa bình của gia đình tôi là thế, cay đắng mà cũng ngọt ngào. Tôi đã được ở bên mẹ đến năm 2017, khi bà mất ở tuổi 92.

Mẹ con tôi đã chia sẻ mọi vui buồn thời hậu chiến cùng nhau, đã sống trong hòa bình, đã cùng trải nghiệm hạnh phúc đoàn tụ. Vì đã đau nỗi đau chia cắt quá lâu, nên mỗi lúc bên nhau, chúng tôi càng cảm nhận sâu sắc giá trị của hòa bình. Một nền hòa bình vô giá.

Sự phản bội và chiến tranh, với tôi, đều là những điều kinh khủng. Cứ mỗi dịp 30-4, xem những hình ảnh và nghe lại bản tin chiến thắng, nước mắt tôi lại trào, tôi thầm gọi đó là bản tin đoàn tụ của chính gia đình tôi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn