Bằng khen của trắc thủ Nguyễn Công Liêu
Bằng khen của trắc thủ Nguyễn Công LiêuHướng tới kỷ niệm 50 năm chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên phủ trên không” (12/1972 - 12/2022), Bảo tàng Phòng không – Không quân (PK-KQ) phát động đợt sưu tầm tư liệu, hiện vật chuẩn bị cho triển lãm và bổ sung hệ thống trưng bày. Ngày 26/12/2020, Đoàn cán bộ Bảo tàng PK-KQ đã về sưu tầm hiện vật tại gia đình đồng chí Nguyễn Công Liêu - nguyên trắc thủ Đại đội 3, Tiểu đoàn 8 Trinh sát Nhiễu Bộ Tham mưu Quân chủng PK-KQ tại thôn Ngọ, xã Chương Mỹ, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.
Ngôi nhà nhỏ nhắn nhưng ngăn nắp, gọn gàng. Ngoài chủ nhà đồng chí Nguyễn Công Liêu còn có cựu chiến binh Đội Trinh sát Nhiêu đón tiếp chúng tôi rất chân tình, ấm áp như đón những người đồng đội năm xưa của mình. Với chất giọng trầm ấm, các đồng chí kể cho chúng tôi những kỷ niệm vui buồn thời quân ngũ. Đồng chí Nguyễn Công Liêu sinh năm 1946, quê ở Phú Xuyên, Hà Tây (cũ), tháng 4/1965, đồng chí lên đường nhập ngũ, công tác tại Đại đội 31, Trung đoàn 75 Cục nghiên cứu Bộ Tổng Tham mưu. Tháng 12/1969, đồng chí được điều về công tác tại Đội trinh sát Nhiễu Bộ Tham mưu Quân chủng. Ngày 16/01/1970, Đội Trinh sát Nhiễu được phát triển thành Tiểu đoàn Trinh sát Nhiễu, lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 8 (d8). Nhìn xung quanh nhà, tôi[1] chợt dừng lại ở chiếc bằng khen được treo trang trọng trên tường. Trong đó ghi: “Sư đoàn 373 Quân chủng Phòng không – Không quân tặng Trung sĩ Nguyễn Công Liêu, trắc thủ Đại đội 3, Tiểu đoàn 8 Trinh sát Nhiễu Bộ Tham mưu vì đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu từ ngày 18 đến 30/12/1972”. Thấy tôi chăm chú nhìn vào chiếc bằng khen, các bác cựu chiến binh Đội Trinh sát Nhiễu lập tức xoay quanh những năm tháng họ từng sát cánh bên nhau trong thực hiện nhiệm vụ và cơ duyên để trắc thủ Nguyễn Công Liêu có được tấm Bằng khen. 
Ảnh chân dung Nguyễn Công Liêu Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ rất coi trọng thủ đoạn gây nhiễu ra-đa của ta. Đặc biệt từ năm 1965, khi bộ đội phòng không Việt Nam được trang bị tên lửa SAM-2, địch thực hiện các thủ đoạn gây nhiễu một cách quyết liệt hơn. Với hệ thống gây nhiễu của chúng, tất cả các loại ra-đa cảnh giới, cao xạ, tên lửa của ta đều bị nhiễu nặng, rất khó phát hiện máy bay địch. Chúng sử dụng máy gây nhiễu tích cực và máy gây nhiễu tiêu cực lắp trên các chiến đấu cơ chiến thuật, máy bay ném bom của Không quân Mỹ. Thủ đoạn gây nhiễu của địch là làm trắng màn hiện sóng ra-đa, khiến ta không thể xác định được mục tiêu để chỉ điểm cho phòng không đánh trả. Những thủ đoạn của địch đã làm giảm đi hiệu suất chiến đấu của bộ đội tên lửa. Trước tình hình đó, ngày 10/01/1967, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Phùng Thế Tài đã ký quyết định số 508 thành lập “Đội Trinh sát Nhiễu” trực thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng. Đội Trinh sát nhiễu có nhiệm vụ nắm tình hình gây nhiễu của địch, nghiên cứu tìm ra biện pháp chống nhiễu để phổ biến kinh nghiệm cho các đơn vị trong toàn Quân chủng. Quân số của Đội Trinh sát nhiễu gồm 34 cán bộ, trắc thủ, thợ sửa chữa ra-đa vừa được điều về từ các đơn vị. Trang bị ban đầu gồm máy thu sóng m P-313, P-314, P-325; máy thu sóng dm và cm D1K; máy thu tín hiệu ra-đa PC-1, PC-2, PC-3; các máy phân tích phổ của tín hiệu; máy ghi âm để ghi lại tín hiệu thu được và máy quay phim, chụp ảnh.
Cán bộ Tiểu đoàn 8 trinh sát nhiễu tại Quảng Bình năm 1967 – 1970. Ảnh Tư liệu. Tháng 6/1967, khi máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang ở Hà Nội, Đội Trinh sát Nhiễu đã bắt đầu mở máy và thu được những tín hiệu nhiễu của địch, đo được các dải tần số nhiễu, đặc biệt là phát hiện được các dải tần số nhiễu rãnh đạn tên lửa phòng không, giúp cho các chuyên gia Liên Xô tìm ra nguyên nhân mà nhiễu của địch đã làm cho tên lửa của ta mất điều khiển, tạo cơ sở cải tiến tên lửa chống nhiễu rãnh đạn có hiệu quả đối với lực lượng Phòng không - Không quân. Trong giai đoạn 1967-1968, để đối phó với đạn tên lửa của ta, máy bay Mỹ sử dụng máy gây nhiễu ALQ-71 mở rộng tần số gây nhiễu sóng 10cm trùm qua rãnh đạn tên lửa, làm cho đạn tên lửa của ta mất điều khiển. Theo tổng kết, tên lửa của ta gặp phải ba trường hợp: Đạn được phóng lên nhưng rơi tại chỗ, đạn không có điều khiển bay vọt lên cao tự nổ hoặc đạn không rời bệ phóng vì không bắt được tín hiệu điều khiển. Thủ đoạn này của đối phương làm Bộ đội Tên lửa giảm đáng kể khả năng chiến đấu. Một yêu cầu được đặt ra, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ đặc điểm từng loại nhiễu để đề xuất các phương án cải tiến kỹ thuật. Trước tình hình đó, Đội Trinh sát Nhiễu đã khẩn trương bắt tay vào nghiên cứu phân tích để tìm ra và khắc phục. Dưới sự chỉ huy của Đội trưởng Phan Thu, Đội Trinh sát Nhiễu đã tổ chức thành một đoàn công tác cơ động vào phía trong trinh sát tìm hiểu thêm về nhiễu của địch và nhất là nhiễu của B-52 khi chúng đánh phá tuyến Đường 559. Suốt mùa khô 1968-1969, Đội Trinh sát nhiễu đã ở lại Cà Ròn, trực 24/24. Bằng phương pháp thống kê tỉ mỉ, khoa học, Đội Trinh sát Nhiễu đã xử lý rất công phu để rút ra những dấu hiệu cho thấy có máy bay B-52 vào đánh và khả năng đánh vào hướng nào? Qua nhiều lần nghiên cứu, Đội Trinh sát Nhiễu đã rút ra được quy luật về thời điểm xuất hiện B-52 sớm từ 12-15 phút để báo động cho các lực lượng vào nơi ẩn nấp. Sang năm 1970, do yêu cầu nhiệm vụ, Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu được thành lập (Tiểu đoàn 8) do đồng chí Phan Thu làm Tiểu đoàn trưởng. Trong đó Đại đội 3 được đặt ở Cà Ròn. Khi Tiểu đoàn tên lửa 84 triển khai đánh địch, bám sát theo dải nhiễu, Đại đội 3 đã chỉ thị, đài điều khiển tên lửa phát sóng và bắt ngay được mục tiêu ở cự ly 23km trên nền nhiễu. Nhưng do máy bay B-52 ném bom xong rồi quay ra nên tín hiệu giảm rất nhanh. Từ bắn đón phải sang bắn đuổi, đạn cũng chỉ bay sượt qua B-52 không có điểm nổ. Cuộc chiến đấu tuy không thành công đối với các chiến sĩ tên lửa, nhưng Tiểu đoàn nhiễu lại vui mừng vì thu được một điều quan trọng: Tên lửa SAM-2 hoàn toàn có khả năng bắt được B-52 ở cự ly nhất định. Phát hiện của các cán bộ trinh sát nhiễu đã góp phần xây dựng chiến thuật, cách đánh B-52. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu nhiễu, các cán bộ trinh sát nhiễu còn phát hiện thêm một điểm yếu của B-52 khi đánh sâu vào trong Hà Nội: B-52 hầu như chỉ dựa vào máy gây nhiễu của chính nó, cho nên không đủ khả năng tự ngụy trang hoàn toàn. Từ những thông tin quý giá do Đội Trinh sát Nhiễu tìm ra, việc cải tiến chống nhiễu rãnh đạn cho đạn SAM-2 là một trong những bước cải tiến quan trọng, giúp “rồng lửa Thăng Long” tiếp tục phát huy hiệu quả, bắn rơi nhiều máy bay địch. Đầu tháng 12/1972, Quân chủng chỉ đạo Tiểu đoàn 8 phối thuộc với Trung đoàn 290 (Sư đoàn 373) thực hiện nhiệm vụ chống nhiễu, phát hiện B-52 ở Quân khu 4 và làm nhiệm vụ cảnh giới xa cho Thủ đô Hà Nội. Trận địa của Đại đội 3, Tiểu đoàn 8 được triển khai tại xóm Tam Đa, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch, cách thị trấn Ba Đồn khoảng 10km, cách các chân hàng quân sự trên đường 12 là 2km. Chính nơi đây, đơn vị đã chứng kiến hàng trăm cuộc ném bom của B-52, trong đó có cuộc ném bom gần nhất (cự ly 1km). Rất nhiều lần đơn vị phải hứng chịu những loạt bom của máy bay B-52 ném gần trận địa, nhưng không làm giảm đi tinh thần, ý chí và khả năng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3. Trên cương vị trắc thủ xe ЛOCT-2MK, đồng chí Nguyễn Công Liêu lại càng có điều kiện nắm chắc những quy luật hoạt động gây nhiễu điện tử của máy bay B-52. Cho đến giờ đồng chí Nguyễn Công Liêu vẫn nhớ như in kí ức của những ngày rực lửa: Kíp trực ban tối 18/12/1972, trên xe ЛOCT-2MK có 2 trắc thủ là ông và đồng chí Nguyễn Xuân Tính. Khoảng 18 giờ, tôi nghe tín hiệu B-52 từ rất xa biểu hiện có nhiều tốp máy bay B-52 di chuyển ở phía Tây Quảng Bình, nhưng không thấy ném bom Quảng Bình mà bay thẳng ra Hà Nội. Tôi liền hội ý với đồng chí Tính rồi thông báo sang Sở Chỉ huy: Báo cáo! Máy bay đang bay ra ném bom Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Hồng Tuấn là sĩ quan trực ban chỉ huy trưởng có điện thoại hỏi lại: Hai đồng chí cho kiểm tra lại chính xác. Tội hoang báo cũng là tội bỏ lọt mục tiêu! Lúc đó tôi khẳng định: Tôi lấy danh dự người lính trắc thủ, trung thành với máy ЛOCT-2MK thông báo có máy bay B52 bay ra Hà Nội ném bom, nếu sai tôi xin chịu kỷ luật!. Gần một tiếng đồng hồ căng thẳng trôi qua. Từ Sở Chỉ huy, đồng chí Nguyễn Hồng Tuấn cuối cùng đã điện sang: Kíp trực ban của hai đồng chí đã thông báo kịp thời, chính xác. Yêu cầu bám sát mục tiêu máy bay B-52. Lệnh trực ban 24/24. Và trong suốt Chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, Trắc thủ Nguyễn Công Liêu đã cùng đồng đội tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 8 và Trung đoàn 290, Sư đoàn 373 luôn kiên cường bám máy, bám đài, hoàn thành tốt nhiệm vụ phát hiện thông báo kịp thời máy bay B-52 vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng... Những đóng góp “thầm lặng” của đơn vị trinh sát nhiễu; trong đó có cá nhân trắc thủ Nguyễn Công Liêu đã góp phần lập lên những chiến thắng vang dội trên bầu trời miền Bắc, làm lên trận “Điện Biên Phủ trên không”. Toàn quân, toàn dân bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52. Riêng Quân chủng PK-KQ bắn rơi 32 chiếc B-52.
Bằng khen của đồng chí Nguyễn Công Liêu. Ảnh Bảo tàng PK-KQ Sau Chiến dịch, Đại đội 3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Riêng đồng chí Nguyễn Hồng Tuấn được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba và đồng chí Nguyễn Công Liêu, Nguyễn Xuân Tính (Đại đội 3 Tiểu đoàn 8) đã được Sư đoàn 373 tặng Bằng khen. Đặc biệt, ngày 16/12/2014, Đại đội 3 Trinh sát nhiễu được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Bác Nguyễn Công Liêu, nguyên trắc thủ Đại đội 3 Tiểu đoàn 8 Trinh sát Nhiễu tặng hiện vật cho Bảo tàng PK-KQ. Trong niềm vui sum họp thắm tình đồng đội, người trắc thủ ra-đa năm xưa đã vui vẻ tặng chiếc Bằng khen của mình cho Bảo tàng PK-KQ làm hiện vật. Vẫn nụ cười hóm hỉnh trên môi, ông bộc bạch: “Chiến công là chiến công chung, tôi chỉ thay mặt các anh em nhận thôi. Tặng hiện vật này cho Bảo tàng, tôi muốn các thế hệ trẻ sau này biết rằng, trong chiến công chung của toàn dân tộc, có một phần đóng góp không nhỏ của các chiến sĩ ra-đa thầm lặng”.

Ảnh chân dung Nguyễn Công Liêu Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ rất coi trọng thủ đoạn gây nhiễu ra-đa của ta. Đặc biệt từ năm 1965, khi bộ đội phòng không Việt Nam được trang bị tên lửa SAM-2, địch thực hiện các thủ đoạn gây nhiễu một cách quyết liệt hơn. Với hệ thống gây nhiễu của chúng, tất cả các loại ra-đa cảnh giới, cao xạ, tên lửa của ta đều bị nhiễu nặng, rất khó phát hiện máy bay địch. Chúng sử dụng máy gây nhiễu tích cực và máy gây nhiễu tiêu cực lắp trên các chiến đấu cơ chiến thuật, máy bay ném bom của Không quân Mỹ. Thủ đoạn gây nhiễu của địch là làm trắng màn hiện sóng ra-đa, khiến ta không thể xác định được mục tiêu để chỉ điểm cho phòng không đánh trả. Những thủ đoạn của địch đã làm giảm đi hiệu suất chiến đấu của bộ đội tên lửa. Trước tình hình đó, ngày 10/01/1967, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Phùng Thế Tài đã ký quyết định số 508 thành lập “Đội Trinh sát Nhiễu” trực thuộc Bộ Tham mưu Quân chủng. Đội Trinh sát nhiễu có nhiệm vụ nắm tình hình gây nhiễu của địch, nghiên cứu tìm ra biện pháp chống nhiễu để phổ biến kinh nghiệm cho các đơn vị trong toàn Quân chủng. Quân số của Đội Trinh sát nhiễu gồm 34 cán bộ, trắc thủ, thợ sửa chữa ra-đa vừa được điều về từ các đơn vị. Trang bị ban đầu gồm máy thu sóng m P-313, P-314, P-325; máy thu sóng dm và cm D1K; máy thu tín hiệu ra-đa PC-1, PC-2, PC-3; các máy phân tích phổ của tín hiệu; máy ghi âm để ghi lại tín hiệu thu được và máy quay phim, chụp ảnh.

Cán bộ Tiểu đoàn 8 trinh sát nhiễu tại Quảng Bình năm 1967 – 1970. Ảnh Tư liệu. Tháng 6/1967, khi máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang ở Hà Nội, Đội Trinh sát Nhiễu đã bắt đầu mở máy và thu được những tín hiệu nhiễu của địch, đo được các dải tần số nhiễu, đặc biệt là phát hiện được các dải tần số nhiễu rãnh đạn tên lửa phòng không, giúp cho các chuyên gia Liên Xô tìm ra nguyên nhân mà nhiễu của địch đã làm cho tên lửa của ta mất điều khiển, tạo cơ sở cải tiến tên lửa chống nhiễu rãnh đạn có hiệu quả đối với lực lượng Phòng không - Không quân. Trong giai đoạn 1967-1968, để đối phó với đạn tên lửa của ta, máy bay Mỹ sử dụng máy gây nhiễu ALQ-71 mở rộng tần số gây nhiễu sóng 10cm trùm qua rãnh đạn tên lửa, làm cho đạn tên lửa của ta mất điều khiển. Theo tổng kết, tên lửa của ta gặp phải ba trường hợp: Đạn được phóng lên nhưng rơi tại chỗ, đạn không có điều khiển bay vọt lên cao tự nổ hoặc đạn không rời bệ phóng vì không bắt được tín hiệu điều khiển. Thủ đoạn này của đối phương làm Bộ đội Tên lửa giảm đáng kể khả năng chiến đấu. Một yêu cầu được đặt ra, cần phải nghiên cứu tỉ mỉ đặc điểm từng loại nhiễu để đề xuất các phương án cải tiến kỹ thuật. Trước tình hình đó, Đội Trinh sát Nhiễu đã khẩn trương bắt tay vào nghiên cứu phân tích để tìm ra và khắc phục. Dưới sự chỉ huy của Đội trưởng Phan Thu, Đội Trinh sát Nhiễu đã tổ chức thành một đoàn công tác cơ động vào phía trong trinh sát tìm hiểu thêm về nhiễu của địch và nhất là nhiễu của B-52 khi chúng đánh phá tuyến Đường 559. Suốt mùa khô 1968-1969, Đội Trinh sát nhiễu đã ở lại Cà Ròn, trực 24/24. Bằng phương pháp thống kê tỉ mỉ, khoa học, Đội Trinh sát Nhiễu đã xử lý rất công phu để rút ra những dấu hiệu cho thấy có máy bay B-52 vào đánh và khả năng đánh vào hướng nào? Qua nhiều lần nghiên cứu, Đội Trinh sát Nhiễu đã rút ra được quy luật về thời điểm xuất hiện B-52 sớm từ 12-15 phút để báo động cho các lực lượng vào nơi ẩn nấp. Sang năm 1970, do yêu cầu nhiệm vụ, Tiểu đoàn Trinh sát nhiễu được thành lập (Tiểu đoàn 8) do đồng chí Phan Thu làm Tiểu đoàn trưởng. Trong đó Đại đội 3 được đặt ở Cà Ròn. Khi Tiểu đoàn tên lửa 84 triển khai đánh địch, bám sát theo dải nhiễu, Đại đội 3 đã chỉ thị, đài điều khiển tên lửa phát sóng và bắt ngay được mục tiêu ở cự ly 23km trên nền nhiễu. Nhưng do máy bay B-52 ném bom xong rồi quay ra nên tín hiệu giảm rất nhanh. Từ bắn đón phải sang bắn đuổi, đạn cũng chỉ bay sượt qua B-52 không có điểm nổ. Cuộc chiến đấu tuy không thành công đối với các chiến sĩ tên lửa, nhưng Tiểu đoàn nhiễu lại vui mừng vì thu được một điều quan trọng: Tên lửa SAM-2 hoàn toàn có khả năng bắt được B-52 ở cự ly nhất định. Phát hiện của các cán bộ trinh sát nhiễu đã góp phần xây dựng chiến thuật, cách đánh B-52. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu nhiễu, các cán bộ trinh sát nhiễu còn phát hiện thêm một điểm yếu của B-52 khi đánh sâu vào trong Hà Nội: B-52 hầu như chỉ dựa vào máy gây nhiễu của chính nó, cho nên không đủ khả năng tự ngụy trang hoàn toàn. Từ những thông tin quý giá do Đội Trinh sát Nhiễu tìm ra, việc cải tiến chống nhiễu rãnh đạn cho đạn SAM-2 là một trong những bước cải tiến quan trọng, giúp “rồng lửa Thăng Long” tiếp tục phát huy hiệu quả, bắn rơi nhiều máy bay địch. Đầu tháng 12/1972, Quân chủng chỉ đạo Tiểu đoàn 8 phối thuộc với Trung đoàn 290 (Sư đoàn 373) thực hiện nhiệm vụ chống nhiễu, phát hiện B-52 ở Quân khu 4 và làm nhiệm vụ cảnh giới xa cho Thủ đô Hà Nội. Trận địa của Đại đội 3, Tiểu đoàn 8 được triển khai tại xóm Tam Đa, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch, cách thị trấn Ba Đồn khoảng 10km, cách các chân hàng quân sự trên đường 12 là 2km. Chính nơi đây, đơn vị đã chứng kiến hàng trăm cuộc ném bom của B-52, trong đó có cuộc ném bom gần nhất (cự ly 1km). Rất nhiều lần đơn vị phải hứng chịu những loạt bom của máy bay B-52 ném gần trận địa, nhưng không làm giảm đi tinh thần, ý chí và khả năng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3. Trên cương vị trắc thủ xe ЛOCT-2MK, đồng chí Nguyễn Công Liêu lại càng có điều kiện nắm chắc những quy luật hoạt động gây nhiễu điện tử của máy bay B-52. Cho đến giờ đồng chí Nguyễn Công Liêu vẫn nhớ như in kí ức của những ngày rực lửa: Kíp trực ban tối 18/12/1972, trên xe ЛOCT-2MK có 2 trắc thủ là ông và đồng chí Nguyễn Xuân Tính. Khoảng 18 giờ, tôi nghe tín hiệu B-52 từ rất xa biểu hiện có nhiều tốp máy bay B-52 di chuyển ở phía Tây Quảng Bình, nhưng không thấy ném bom Quảng Bình mà bay thẳng ra Hà Nội. Tôi liền hội ý với đồng chí Tính rồi thông báo sang Sở Chỉ huy: Báo cáo! Máy bay đang bay ra ném bom Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Hồng Tuấn là sĩ quan trực ban chỉ huy trưởng có điện thoại hỏi lại: Hai đồng chí cho kiểm tra lại chính xác. Tội hoang báo cũng là tội bỏ lọt mục tiêu! Lúc đó tôi khẳng định: Tôi lấy danh dự người lính trắc thủ, trung thành với máy ЛOCT-2MK thông báo có máy bay B52 bay ra Hà Nội ném bom, nếu sai tôi xin chịu kỷ luật!. Gần một tiếng đồng hồ căng thẳng trôi qua. Từ Sở Chỉ huy, đồng chí Nguyễn Hồng Tuấn cuối cùng đã điện sang: Kíp trực ban của hai đồng chí đã thông báo kịp thời, chính xác. Yêu cầu bám sát mục tiêu máy bay B-52. Lệnh trực ban 24/24. Và trong suốt Chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, Trắc thủ Nguyễn Công Liêu đã cùng đồng đội tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 8 và Trung đoàn 290, Sư đoàn 373 luôn kiên cường bám máy, bám đài, hoàn thành tốt nhiệm vụ phát hiện thông báo kịp thời máy bay B-52 vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng... Những đóng góp “thầm lặng” của đơn vị trinh sát nhiễu; trong đó có cá nhân trắc thủ Nguyễn Công Liêu đã góp phần lập lên những chiến thắng vang dội trên bầu trời miền Bắc, làm lên trận “Điện Biên Phủ trên không”. Toàn quân, toàn dân bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52. Riêng Quân chủng PK-KQ bắn rơi 32 chiếc B-52.
Bằng khen của đồng chí Nguyễn Công Liêu. Ảnh Bảo tàng PK-KQ Sau Chiến dịch, Đại đội 3 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Riêng đồng chí Nguyễn Hồng Tuấn được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba và đồng chí Nguyễn Công Liêu, Nguyễn Xuân Tính (Đại đội 3 Tiểu đoàn 8) đã được Sư đoàn 373 tặng Bằng khen. Đặc biệt, ngày 16/12/2014, Đại đội 3 Trinh sát nhiễu được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bác Nguyễn Công Liêu, nguyên trắc thủ Đại đội 3 Tiểu đoàn 8 Trinh sát Nhiễu tặng hiện vật cho Bảo tàng PK-KQ. Trong niềm vui sum họp thắm tình đồng đội, người trắc thủ ra-đa năm xưa đã vui vẻ tặng chiếc Bằng khen của mình cho Bảo tàng PK-KQ làm hiện vật. Vẫn nụ cười hóm hỉnh trên môi, ông bộc bạch: “Chiến công là chiến công chung, tôi chỉ thay mặt các anh em nhận thôi. Tặng hiện vật này cho Bảo tàng, tôi muốn các thế hệ trẻ sau này biết rằng, trong chiến công chung của toàn dân tộc, có một phần đóng góp không nhỏ của các chiến sĩ ra-đa thầm lặng”.



