BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Đoạn trích khẳng định tầm quan trọng sống còn của thông tin liên lạc – "mạch máu" quyết định sự thống nhất chỉ huy và thắng lợi của toàn chiến dịch Điện Biên Phủ. Qua lời kể chi tiết, người đọc thấy được một cuộc đấu trí, đấu lực thầm lặng nhưng quyết liệt: từ việc chuẩn bị tài liệu kỹ thuật, đổi mới hệ thống mật mã cơ yếu để giữ bí mật tuyệt đối, đến kỳ tích xây dựng mạng lưới hữu tuyến điện xuyên rừng núi, nối liền từ hầm Đại tướng đến tận các tổ bốt vây lấn. Các chiến sĩ thông tin đã vượt qua
Bác Hồ dạy: “Việc liên lạc là việc quan trong bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi”.
Thông tin là mạch máu, là thần kinh của quân đội. Đảng phản công, cấp trên giao nhiệm vụ, nhưng người chỉ huy có hoàn thành được hay không là phải nhờ vào thông tin. Không có thông tin, mọi mệnh lệnh chỉ thị đều không được thực hiện, hành động hiệp đồng không thống nhất, không phát huy được sức mạnh tổng hợp.
Để chuẩn bị cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, từ năm 1952, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trường đã tiệu tập Cục trưởng Thông tin Hoàng Đạo Thúy và Cục trưởng Cơ yếu giao nhiệm vụ chuẩn bị từ khâu đào tạo cán bộ, dịch in tài liệu cho cán bộ nhân viên kỹ thuật thông tin vô tuyến, hữu tuyến, điện thoại dã chiến, điện thoại đường dài và chuyển đạt. Tổ biên dịch tài liệu nước ngoài làm việc suốt ngày đêm, có lúc Cục trưởng Hoàng Đạo Thúy cũng tham gia dịch. Trong phòng tham mưu, từ trưởng phòng Hoàng Mười, Hoàng Xuân Vượng đến các trợ lý Lưu Phúc Thảo, Đào Ngạn, Cục phó Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Trọng Tỉnh, cán bộ tiểu đoàn thông tin đều tham gia. Tài liệu khi đó in bằng li tô, bản vẽ đều do đồng chí Vượng, một thanh niên Việt kiều từ Nhật về trực tiếp vừa vẽ vừa in, có bản vẽ do đồng chí Hoàng Đạo Thúy trực tiếp hoặc một số đồng chí tham mưu các ngành tham gia không kể ngày đêm. Một khối lượng lớn tài liệu được hoàn thành trong một thời gian ngắn.
Sau đợt chỉnh huấn chính trị, toàn bộ cán bộ nhân viên kỹ thuật thông tin được tập huấn về kỹ thuật, chiến thuật thông tin và lề lối tác phong làm việc. Song song với việc thành lập đơn vị mới thông tin đường dài bằng dây trần, bộ đội vừa học vừa làm dây trần bằng đồng 3.2 mm nối liền với thông tin quốc tế. Đường dây dã chiến cũng được tập huấn kỹ cho chiến sĩ từ cách nối dây, bắc dây qua sông, chôn giấu dây, ra dây dưới hỏa lực địch. Chiến sĩ thông tin vô tuyến học cách liên lạc mới, cách viết, nhận đánh chữ số. Cơ yếu chuyển từ chữ cái sang chữ số, làm luật cơ yếu mới. Đầu tiên thí điểm ở Đại đoàn Quân Tiên phong. Bước vào Đông Xuân 1953-1954 thì đổi toàn mạng trong toàn quân. Quân địch phải sau mấy tháng mới tìm được mạng liên lạc của bộ đội ta nhưng mật mã cơ yếu thì vẫn chưa dò ra. Đó là cuộc đổi mới để đảm bảo bí mật quân sự khi bước vào Đông Xuân 1953-1954 mà Binh chủng Thông tin và cơ yếu tích cực chuẩn bị suốt một năm trời. Đây là cuộc đấu trí, đấu lực của Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam với Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp.
Sau trận đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản, Bộ tổng tham mưu triệu tập cán bộ có kinh nghiệm đánh công kiên về nghiên cứu biên soạn tài liệu đánh tập đoàn cứ điểm. Đặc biệt là việc sử dụng thủ tục liên lạc mới, chuyển nhận diện chữ số, sử dụng máy mới trang bị và máy chiến lợi phẩm. Các đại đoàn tổ chức các trung đội vô tuyên điện thoại 702, 71, BC1000... tăng cường liên lạc giữa các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trong tấn công cụm cứ điểm dùng chữ đúc, tiếng mật...
Trước khi bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tư lệnh chỉ huy chỉ đạo chiến dịch giải phóng Lai Châu, chiến dịch Trung Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên... chủ yếu bằng thông tin vô tuyến điện. Trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch Điện Biên Phủ, việc liên lạc với các chiến trường phối hợp phải bảo đảm để Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nắm được tình hình chung trên chiến trường toàn Đông Dương. Phải bảo đảm mạng thông tin vô tuyến điện liên lạc với Trung ương Đảng và Sở chỉ huy cơ bản của Bộ, liên lạc với Liên khu 3, Bộ chỉ huy Trung Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên, mặt trận Tây Bắc, Trung đoàn 148, tiểu đoàn 910, Đại đoàn 308 và 3 trung đoàn 36, 88, 102, đài quân báo và sở chỉ huy nhẹ của 308 khi truy kích địch ở Thượng Lào, Đại đoàn 312, 316, 351, Trung đoàn cao xạ 367, hai trung đoàn 9 và 57 thuộc Đại đoàn 304, các đơn vị hậu cần bảo đảm lương thực đạn dược và công binh bảo đảm giao thông. Phải bố trí máy trực thu canh liên tục và máy dự bị. Ngoài mạng thông tin vô tuyến điện trực tiếp với các đơn vị bao vây và tấn công địch ở Điện Biên Phủ như: Đại đoàn 304, 308, 312, 316, 351, ta còn tổ chức một mạng vô tuyến điện bằng máy SCR694 đàm thoại bằng chữ mật đề phòng khi bị đứt dây điện thoại. Khi các đại đoàn nổ súng đánh địch thì máy SCR694 của Bộ tại sở chỉ huy chiến dịch mở máy liên tục. Chỉ huy pháo binh và hiệp đồng giữa bộ binh thì sử dụng hữu tuyến điện là chủ yếu nhưng vẫn trang bị thêm cho Đại đoàn 351 một số máy VTĐ 915W và máy SCR694 cho trung đoàn cao xạ 367 để dùng khi hữu tuyến điện bị đứt. Trung đoàn lựu pháo 45 được trang bị máy BC1000 để liên lạc trong nội bộ và giữa đài quan sát với trận địa pháo. Trung đoàn bộ binh tiến công cứ điểm hoặc đánh phản kích thì pháo binh tổ chức đài quan sát tiền tiến, bảo đảm thông tin liên hệ trực tiếp với bộ binh và chỉ thị mục tiêu cho pháo binh. Trung đoàn cao xạ 367 dùng máy 2W71B để liên lạc nội bộ. Tiểu đoàn hỏa tiễn 6 nòng được tăng cường VTĐ liên lạc với Bộ chỉ huy chiến dịch. Trung đoàn 675 sơn pháo đi cùng bộ binh nên không trang bị VTĐ. Việc bảo đảm chỉ huy, chỉ đạo hậu cần, tiền phương Tổng cục Cung cấp được tăng cường thông tin để liên lạc với Liên khu 3, Liên khu 4, thường xuyên nắm vững kho tàng, bến bãi, trọng điểm địch đánh phá, liên lạc với các phái viên chỉ huy dân công, hệ thống quân y chăm sóc thương binh, tổ chức các đài VTĐ biệt phái xuống cụm kho hậu cần suốt chiến dịch, đảm bảo cho Tổng Tư lệnh nắm vững tình hình hậu cần kỹ thuật và tiếp tế của hậu phương. Sơ đồ công tác bảo đảm thông tin cho chiến dịch được cập nhật từng giờ tại các cơ quan tham mưu chiến dịch. Hệ thống thông tin thường xuyên bảo đảm thông suốt giữa Tổng Tư lệnh và các chiến trường, các đại đoàn và vượt cấp xuống các đơn vị bằng VTĐ (sơ đồ 1, mạng thông tin trong chiến dịch Điện Biên Phủ). Công tác bảo đảm bí mật chủ yếu là dùng tiếng mật trong liên lạc hữu tuyến điện hoặc vô tuyến điện thoại.
Đồng chí Nguyễn Huy Văn cán bộ thông tin trực ở Sở chỉ huy Đại đoàn pháo binh 351 kể: mở đầu chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi đồng chí Đào Văn Trường - Đại đoàn trưởng 351: bên anh Tấn yêu cầu nổ súng sớm hơn giờ quy định, pháo đã sẵn sàng chưa? Anh Trường đáp: đã chuẩn bị xong các phần tử bắn, sẵn sàng nổ súng, Đại tướng nói: “Tôi hạ lệnh nổ súng. Nghe rõ chưa”? Anh Trường đáp: “Nghe rõ lệnh nổ súng”. Đường dây từ Sở chỉ huy chiến dịch, qua trung đoàn, tiểu đoàn, đến đại đội lựu pháo 806 đều nhận được lệnh của Đại tướng và Tổng Tư lệnh cũng nghe rõ tiếng nổ đầu nòng và tiếng nổ của lựu pháo ta ầm ầm trút xuống đồi Him Lam của địch. Lúc đó là 17 giờ 10 phút. Thông tin liên lạc đã góp phần bảo đảm trận đầu ra quân là chiến thắng cũng như hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ suốt cả chiến dịch.
Xây dựng được mạng hữu tuyến điện trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một kì công: Từ Sở chỉ huy chiến dịch xuống các đại đoàn và các đơn vị đều có đường dây liên lạc trực tiếp qua 2 tổng đài Hồng Lĩnh ở Sở chỉ huy và tổng đài 20 Chiến Thắng (tổng đài trung tâm). Bảo đảm trước tiên đến quân báo chiến dịch, các đài quan sát của Bộ, đường dây liên lạc với tiền phương Tổng cục Cung cấp, đơn vị công binh làm đường kéo pháo, đường dây chỉ huy hiệp đồng, vu hồi khép kín tới trận địa pháo và đơn vị chủ công. Trước ngày nổ súng, đồng chí Tổng Tư lệnh và Tham mưu trưởng chiến dịch đã trực tiếp gọi điện thoại đến từng đại đoàn, trung đoàn và tiểu đoàn chủ công để kiểm tra và động viên dặn dò. Những trường hợp xa có lúc phải tiếp chuyển, các tổng đài có cán bộ thông tin thường trực để truyền lệnh đúng và rõ cho các đơn vị chấp hành, Tổng đài Chiến Thắng do đồng chí Hoàng Xuân Vượng - Phó ban Thông tin mặt trận trực tiếp truyền lệnh. Các trung đoàn vây lấn đến đâu, đường dây điện thoại kéo đến đó. Khi chia cắt địch thì tạo thêm đường dây vu hồi để tăng cường sự vững chắc của thông tin. Để chống pháo địch bắn đứt dây, bộ đội đã đào rãnh rải dây hoặc ghim đường dây theo vách giao thông hào. Phát động bộ đội toàn mặt trận cùng bảo vệ chăm sóc đường dây như một mạch máu của mình. Để khỏi nhầm lẫn khi nối dây, chiến sĩ thông tin có sáng kiến dùng mảnh sắt cắt theo các hình làm kí hiệu để phân biệt từng loại dây. Tuy cách làm còn thủ công nhưng có hiệu quả. Ác liệt nhất là bảo đảm thông tin qua cửa mở trong đánh công kiên, ngoài việc kết hợp hữu tuyến, vô tuyến, phải sử dụng đội ngũ chuyển đạt. Nhiều chiến sĩ chuyển đạt đã anh dũng hi sinh cùng với xung kích.
| Dây điện thoại thiếu rất nghiêm trọng. Điều này ta đã dự kiến trước và có cách khắc phục bằng cách tháo toàn bộ mạng dây thông tin của Bộ với các cơ quan và với Trung ương Đảng, với hậu phương để thay bằng đường dây trần, vay dây của bưu điện Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. Đồng thời phát động du kích địch hậu tháo gỡ dây của địch, thưởng đạn cho du kích khi lấy được dây. Ban 3 chiến dịch có sáng kiến cử đồng chí Lưu Phúc Thảo dẫn một trung đội về cứ điểm Nà Sản đào toàn bộ dây bọc địch bỏ lại. Đồng chí Đào Ngoạn có sáng kiến gỡ dây thép gai làm dây trần để mắc cho các đơn vị phía sau đổi dây bọc cho đơn vị phía trước. Chính ủy Cục Thông tin liên lạc Hoàng Bửu Đôn cũng vay dây của Tổng Liên đoàn Lao động... tất cả cùng lo dây điện thoại phục vụ mạng thông tin chiến dịch. Cuộc chiến đấu giữ vững mạch máu thông tin suốt chiến dịch hết sức gay go quyết liệt. Ngoài việc bảo đảm đường dây cho chiến dịch, tiểu đoàn 303 dây bọc dã chiến còn làm đường dây trần nối với hậu phương từ Sơn La về Yên Bái. Tiểu đoàn 132 làm đường dây từ Sở chỉ huy cơ bản của Bộ về Yên Bái, nối liền Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ với Sở chỉ huy cơ bản của Bộ ở Việt Bắc, từ Thái Nguyên lên Lạng Sơn qua La Hiên, Vũ Nhai, Bắc Sơn, Bình Gia lên Đồng Đăng để nối thẳng với Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa chi viện cho Điện Biên Phủ. Đó là những đơn vị tiền thân của các trung đoàn thông tin sau này làm đường dây Bắc Nam trong chống Mỹ. Quá trình chuẩn bị chiến đấu khi cần chuyển công văn hỏa tốc giữa Sở chỉ huy chiến dịch và hậu phương vẫn phải dùng thông tin quân bưu và chuyển đạt chuyển công văn, sách báo, báo Quân đội nhân dân tại mặt trận cho các đơn vị, thư từ động viên của Bộ chỉ huy chiến dịch. Lá cờ Quyết chiến Quyết thắng - phần thưởng cao quý - cũng được chuyển theo đường dây này cho các đại đoàn, trung đoàn, do các chiến sĩ quân bưu đội mưa bom bão đạn vượt suối băng rừng chuyển đi. Ngoài các chuyến xe ô tô từ hậu phương ra mặt trận chuyển đạt đi nhờ, người ta còn thấy những mô tô 3 bánh, các chiến sĩ ngồi ở thùng xe mặc áo mưa ngược, quay mặt về phía sau, ôm các bao tải công văn thư báo, từng tổ chuyển đạt đi xe đạp từ trạm này qua trạm khác. Khi cần như chuyển thư báo cáo lên Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Đảng về chủ trương thay đổi phương châm chiến dịch thì đồng chí Nguyễn Công Dinh sĩ quan tác chiến được đi xe jeep về thẳng hậu phương đưa báo cáo. Các chiến sĩ chuyển đạt ở mặt trận rất dũng cảm, mưu trí khắc phục biết bao khó khăn, gian khổ, ác liệt không sao kể xiết được. Đức hy sinh, gương anh dũng, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của anh em thì không sách báo nào tả hết. Các chiến sĩ điện thoại, vô tuyến 2W, BC1000, 702 đi cùng bộ binh liên lạc giữa trung đoàn, tiểu đoàn, giữa tiểu đoàn với đại đội có nhiều gương vô cùng dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Những gương anh hùng như Chu Văn Mùi dũng cảm đảm bảo thông tin liên lạc chiến đấu ở đồi A1 cũng rất nhiều. Để làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chiến sĩ thông tin liên lạc đã khắc phục muôn vàn khó khăn, chịu đựng biết bao gian khổ vì họ có ý thức rõ nếu những người lính thông tin không làm tròn nhiệm vụ thì ảnh hưởng rất lớn, có thể gây thiệt hại cho cả một đơn vị. Thực tế trong chống Pháp đã có bài học xương máu, do một báo vụ viên bỏ một phiên trực khiến mệnh lệnh cấp trên không đến được chỉ huy cấp dưới, gây tổn thất rất lớn cho cả một đơn vị. Thông tin trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 còn đảm nhiệm cả một phần nhiệm vụ nghi binh theo dõi địch. Giữ bí mật vô tuyến điện là công tác được đặt lên hàng đầu, nhất là những đơn vị thọc sâu đánh xuống Trung Hạ Lào và đông bắc Campuchia. Địch không nắm được lực lượng ta, nhưng chỉ một sơ suất của phái viên mà địch biết được là có Trung đoàn 66. Rút kinh nghiệm, khi Đại đoàn 308 sang Thượng Lào ta đã im lặng vô tuyến điện nên giữ được bí mật tuyệt đối. Điện đài đi cùng tiểu đoàn 436 thọc sâu ở Hạ Lào bị hỏng nhưng đài trưởng Nguyễn Quang Cường đã mày mò tự sửa được và liên lạc lại sau một ngày, khiến cả cấp trên cấp dưới mừng vui khôn xiết. Rút kinh nghiệm, sau đó các báo vụ viên đều phải biết sửa chữa hỏng hóc khi đi độc lập. Các điện đài đều có liên lạc về Tiền phương của Bộ ở Điện Biên Phủ và Sở chỉ huy cơ bản ở Việt Bắc, khi cần có thể liên lạc vu hồi nên thường xuyên bảo đảm thông suốt. Đêm 14 tháng 3 năm 1954, Trung đoàn 165, đại đoàn 312 và Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 do Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ và Đại đoàn phó 312 Đàm Quang Trung chỉ huy. Do mưa lớn, sơn pháo đến chậm nên tới 3 giờ 30 phút sáng 15 tháng 3 năm 1954, pháo mới cấp tập ngắn rồi bộ binh xung phong ngay, địch bị bất ngờ. 6 giờ 30 phút, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Độc Lập. Ta tiêu diệt tiểu đoàn 5, trung đoàn Angiêri số 7, diệt 483 tên, bắt 200 tên, có 2 tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng Kac và Méc-cơ-nen đang nhận bàn giao. Địch cho tiểu đoàn dù và xe tăng phản kích quyết liệt. Đúng lúc Tổng Tư lệnh hạ lệnh cho Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ kiên quyết diệt địch phản kích, giữ vững trận địa đã chiếm thì điện thoại mất liên lạc. Lúc đó hầm chỉ huy hết sức căng thẳng, không rõ kết quả địch phản kích ra sao. Bình thường rất đôn hậu hiền lành nhưng lúc đó Đại tướng sốt ruột nên xẵng giọng: “Anh Thúy, anh có tạo điều kiện cho tôi làm việc không?”. Anh Thúy đang ngồi ngậm píp thuốc, vội đứng nghiêm, dạ một tiếng rồi chạy về phía trung tâm thông tin. Đúng ra, thông tin Đại đoàn 308 phải mang theo máy SCR694 để dùng khi điện thoại bị đứt. Nhưng Trưởng ban Thông tin đại đoàn cho rằng chỉ chiến đấu một đêm nên xin ý kiến tham mưu đại đoàn để máy lại khu tập kết. Là người nhanh trí, anh Thúy dùng máy SCR694 của Bộ gọi máy SCR694 của Đại đoàn 312 để hỏi Đại đoàn 308 thì được biết sơn pháo bắn cháy một xe tăng địch, Trung đoàn 88 đã đánh tan quân địch phản kích. Anh Thúy phải báo cáo lại với Đại tướng, Tổng tư lệnh cười, anh em trong Sở chỉ huy thở phào nhẹ nhõm. Sau trận đánh, đồng chí Trần Sơn, tiểu đoàn trưởng 303 đưa về 1.500 mét dây bọc bị sét đánh cháy đen ở đỉnh Pha Song thì mới rõ nguyên nhân mất liên lạc. Có lần Đại tướng nói chuyện bằng điện thoại thì nghe trong đường dây gọi nhau í ới. Đại tướng đưa tổ hợp cho anh Thúy, anh Thúy lệnh cho đồng chí Vượng ra tín hiệu dẹp yên “Z10”. |


