Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

"BÃO TÁP" ĐÒN TẬP KÍCH PHÁO BINH MỞ ĐẦU CHIẾN DỊCH QUẢNG TRỊ 1972

"BÃO TÁP" ĐÒN TẬP KÍCH PHÁO BINH MỞ ĐẦU CHIẾN DỊCH QUẢNG TRỊ 1972

01/04/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 6 năm 1970, sau khi tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, tôi được điều về làm Tham mưu phó Mặt trận B5 (Mặt trận Trị - Thiên) phụ trách hỏa lực (hồi ấy anh Phạm Đình Tê làm Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận B5). Vừa đặt chân tới Sở chỉ huy Mặt trận, các anh trong Bộ Tư lệnh như Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Lê Tự Đồng giao nhiệm vụ cho tôi tham gia bộ phận dự thảo kế hoạch tác chiến chiến dịch Đông Xuân 1972.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm ba sư đoàn (304, 308, 324), hai trung đoàn bộ binh độc lập, một sư đoàn cao xạ, hai trung đoàn tăng thiết giáp và nhiều lực lượng bảo đảm khác. Về pháo binh, ngoài lực lượng tại chỗ, còn có bảy trung đoàn pháo binh xe kéo vừa được kiện toàn trang bị (gồm 45, 368, 38, 54, 58, 84). Mỗi trung đoàn biên chế từ hai đến ba tiểu đoàn pháo mặt đất và một Tiểu đoàn cao xạ 37 ly.

Tôi đã liên tục có mặt ở chiến trường Trị - Thiên - Huế từ năm 1965 (Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận Khe Sanh - Đường 9 trong chiến dịch tiến công Xuân 1968, Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận B4 (Thừa Thiên - Huế) cho đến Binh đoàn 70 ở Đường 9 - Nam Lào). Vì thế, các yếu tố về địa hình, về địch nói chung và pháo địch nói riêng cũng nắm được khá nhiều, đủ cơ sở để triển khai phương án tác chiến pháo binh của chiến dịch. Sau hai tháng chuẩn bị, kế hoạch tác chiến pháo binh hoàn thành và được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận thông qua. Tháng 9 năm 1971, tôi cùng anh Giáp Văn Cương ra Sở chỉ huy Quảng Bình, trực tiếp báo cáo kế hoạch tác chiến với đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Bộ và Quân ủy Trung ương vào phê duyệt. Cùng đi theo anh Dũng còn có các anh Lê Văn Tri, Cục trưởng Cục Tác chiến; Phan Hàm và một số cán bộ cao cấp của Bộ. Anh Cương báo cáo kế hoạch tác chiến chung, tôi báo cáo kế hoạch sử dụng pháo binh. Qua nghiên cứu, trao đổi, cân nhắc, anh Dũng kết luận và chỉ thị: "Đồng ý với phương án sử dụng pháo binh. Trong chiến dịch này, ta sẽ sử dụng một lực lượng lớn, phải tạo được thế mạnh của Pháo binh Việt Nam. Chiến dịch này còn có sự kết hợp của quần chúng nên pháo binh còn phải đánh phá các trung tâm đầu não chính quyền ngụy ở Quảng Trị, tạo thế cho chiến tranh nhân dân. Đặc biệt, cần giữ bí mật tuyệt đối ý đồ chiến dịch và mọi công tác chuẩn bị, triển khai lực lượng pháo binh...".

Trở lại Sở chỉ huy Mặt trận, chúng tôi trăn trở hai vấn đề: Làm thế nào để toàn bộ lực lượng pháo xe kéo triển khai chiếm lĩnh bí mật, đầy đủ, an toàn và kế hoạch hỏa lực pháo binh. Trong kế hoạch pháo lần này, Bộ chỉ thị phải tiêu diệt được pháo địch, nên nhiệm vụ này trở thành yêu cầu tác chiến số 1 của pháo binh, tốt nhất là khống chế và tiêu diệt được pháo địch ngay trong những ngày đầu chiến dịch.

Về pháo binh địch, có khoảng trên 200 khẩu, chiếm 20% số pháo trên toàn chiến trường miền Nam của chúng. Số pháo trên được bố trí thành 14 căn cứ hỏa lực, gồm ba tuyến: Tuyến ngoài khá mạnh, gồm năm căn cứ (241, Đông Hà, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Mai Lộc); mỗi căn cứ có từ 16 - 20 khẩu 105 - 155 ly, riêng hai căn cứ 241 và Đông Hà, mỗi nơi còn có bốn pháo tự hành 175 ly. Những căn cứ này đồng thời là vị trí đóng quân của các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh, thiết giáp ngụy, nên còn có các sở chỉ huy, công sự, chướng ngại vật khá kiên cố, có đủ hầm ngầm cho người, pháo, đạn. Tuyến giữa cũng có năm căn cứ, mỗi căn cứ có từ 6 - 8 pháo 105 - 155 ly. Tuyến sau (thị xã Quảng Trị, La Vang, Hải Lăng, cầu Thạch Hãn), mỗi căn cứ có từ một trung đội đến một đại đội pháo 105 ly.

Khi làm kế hoạch, yêu cầu đặt ra là tất cả 14 căn cứ hỏa lực này của địch phải nằm trong tầm bắn của pháo xe kéo. Như vậy mới đảm bảo yêu cầu khống chế liên tục, có hiệu quả pháo địch. Dù đã cố gắng đưa các trận địa pháo tầm xa lên sát địch, nhưng một số căn cứ hỏa lực tuyến sau của địch vẫn không nằm trong tầm bắn của pháo xe kéo. Ta đã mạnh dạn sử dụng một tiểu đoàn pháo 130 ly của Trung đoàn 45, lợi dụng kết quả pháo ta bắn ngày N, thì ngay đêm đó tiểu đoàn này vào chiếm lĩnh trận địa nằm sâu trong tung thâm địch, cách bờ Nam sông Bến Hải 4,5 ki-lô-mét, cách phía Đông căn cứ Cồn Tiên 1,5 ki-lô-mét; ta bí mật đào trận địa, lót sẵn nửa cơ số đạn, làm ngầm qua sông Bến Hải. Tiểu đoàn này thực hiện đúng kế hoạch và tham gia hỏa lực từ sáng N+1, khống chế được toàn bộ 14 căn cứ pháo địch.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn