Bát canh cua đá
Sau khi kiệt sức vì thiếu dinh dưỡng trong cuộc hành quân vào Tây Nguyên, người kể chuyện được người công vụ bắt cua đá và hái rau sâm đá nấu canh. Nhờ bữa ăn giản dị ấy cùng sự chăm sóc tận tình của đồng đội, sức khỏe dần hồi phục. Khi đến trạm hậu cần ở B3, đơn vị được truy lĩnh gạo và thực phẩm dồi dào, lần đầu tiên sau nhiều ngày đói khát được ăn no. Bữa cơm nóng và tấm lòng chân tình của chị nuôi khiến người lính xúc động sâu sắc, tiếp thêm tinh thần cho họ trước những chặng đường chiến đấu
Đêm hôm ấy đồng chí công vụ liên lạc của tôi xin đi bắt cua đá để cải thiện cho tôi. Cậu ấy nghe y sĩ tiểu đoàn bước đầu chẩn đoán cơ thể tôi thiếu các loại sinh tố trầm trọng nên gây ra triệu chứng này. Được ăn cua biết đâu sẽ khắc phục một phần bệnh đột biến của tôi. Trên núi cao đá lởm chởm lại rất nhiều cua đá. Vài tiếng đồng hồ em mang về một hăng - gô đầy. Nhìn thấy cua tôi nhớ đến bài hát “con cua đá” của Đoàn Văn công Tổng cục chính trị vào phục vụ tiểu đoàn trước khi lên đường. Bài hát mở đầu: “Cồn cỏ có con cá đua là con cua đá. Nó nằm trong đá, nó nằm trong khe. Nó có 4 cái que 2 cái càng...”. Tại đây lại có một loại rau quý gọi là sâm đá vì nó mọc từ các khe và sống trên mặt các hòn đá tảng. Lá nó to bằng 3 ngón tay giống như rau mùng tơi ở quê ta hay nấu canh. Chỉ khác gân lá lại trắng muốt. Rau sâm đá nấu với cua đá thêm tí muối trở thành món canh rất tuyệt. Bụng đói canh ngon tôi nhai cả vỏ cả que càng cua, húp lá sâm ngon lành. Lạ thay sáng hôm sau các ngón tay tôi cử động được. Sáng ăn tiếp, chiều tôi ngồi dậy. Suốt 2 đêm liền tôi được em công vụ chăm sóc tận tình, sức khỏe tôi hồi phục nhanh. Tôi đi lại chập chững vừa lúc đồng chí bác sĩ trung đoàn quay lại chỗ tôi để xem xét chữa trị cấp thời. Nhận xét của anh như chẩn đoán của y sĩ tiểu đoàn. Tôi được đồng chí tiêm các loại sinh tố như B1, B12, C và các loại thuốc khác. Có thuốc kết hợp được ăn “con cá đua”, vài hôm sau sức khỏe của tôi hồi phục vác balô đuổi theo đơn vị mặc cho hai vợ chồng ông bác sĩ với hàm giáo sư tương lai tiếp tục ấp ủ nhau tại đó.
Về đến trung đoàn bộ gặp đồng chí phó chính uỷ Duy. Thấy tôi ông cười ầm lên: “Cái thằng xì hết pin liệt máy phải cho xạc lại thấy ổn chưa?” Ông cười tôi chưa lâu. Chỉ một ngày sau khi ông đi đại tiện tống bỏ cục nợ trong bụng, ông cảm thấy tay chân cứng đờ. Khác tôi là ông không bị ngất, nhưng không sao đứng dậy túm quần. Ông kêu ầm lên, mọi người ào ra khiêng ông vào. Triệu chứng bệnh ông như tôi. Gặp ông, tôi đá trả lại trái bóng ông đã sút vào lưới tôi: “Anh ơi! Tục ngữ ta có câu: Cười người hôm trước hôm sau người cười. Đúng không?” Ông cười hì hì. Chắc ông cười tôi và cả ông.
Thường trong hành quân tôi đi đầu đội hình tiểu đoàn. Trước tôi là liên lạc trạm dẫn đường và tổ trinh sát. 9 giờ sáng sắp vào địa phận B3 (Bộ Tư lệnh Tây Nguyên) tôi được lệnh cùng đồng chí trợ lý hậu cần vượt lên trước về cơ quan trạm gặp cán bộ tham mưu Bộ Tư lệnh B3 làm việc.
Chúng tôi tách đội hình, do đi lẻ nên khá nhanh. 12 giờ trưa đến trạm, mất nửa tiếng đồng hồ làm việc với cán bộ quân lực, tôi chuyển qua bàn việc cung cấp với đồng chí trạm trưởng. Tôi được thông báo mà ngỡ gặp chuyện trong mơ. Người trúng số độc đắc cũng chỉ sướng run như tôi lúc này. Giọng Quảng Nam trầm, chắc nịch, trạm trưởng nêu lên những con số làm tôi và đồng chí trợ lý hậu cần không ngờ. Anh cho biết ở đây khẩu phần 7 lạng gạo ngày. Đơn vị trợ chiến tăng thêm nửa lạng, lĩnh đủ. Chúng tôi nằm tại ngã ba La Hạp 16 ngày, chỉ lãnh 1 lạng rưỡi người/ngày. Giờ được truy lĩnh 5 lạng rưỡi người/ngày. Hành quân về đến đây 15 ngày. Mỗi người đã lĩnh 3 lạng/ngày. Được truy lĩnh 4 lạng người/ngày… Ôi chao! Tôi thầm kêu trong bụng vội làm con tính nhẩm: Cả hai thời gian ở và đi mỗi người được truy lĩnh cộng lại trên 15 ký lô gạo. Con số đâu phải nhỏ. Chưa hết, đồng chí trạm trưởng cho biết thêm chúng tôi còn lĩnh một số thực phẩm, nhu yếu phẩm như sữa bột đóng hộp, sữa nước, đường trắng, đậu xanh, đậu phụng, muối, thịt chà bông cá tra khô, chao thùng, tương bánh, củ cải và cải bẹ cây muối. Có cả thuốc lá và giấy viết thư... Tiêu chuẩn cụ thể đã ghi trong phiếu. Chiều nay bộ đội đến, sáng mai phải đi lĩnh ngay để kịp giải phóng kho. Đồng chí cán bộ quân lực thừa ủy nhiệm cấp trên thông báo cho bộ đội nghỉ tại trạm 3 ngày. Hai chúng tôi được cấp một phần phiếu ăn, xuống nhà bếp có người phục vụ.
Chị nuôi ở đây rất giống tạng người chị nuôi ở trạm Đ nơi ngã ba rẽ xuống đường dây Quảng Đà. Thoạt nhìn thấy chị tôi lại nhớ cái binh trạm Đ mà chúng tôi ghé vào trưa mùng một tết Nguyên Đán. Cùng cao lớn trạc tuổi nhau, cũng nói giọng Quảng, miệng phì phèo điếu thuốc lá vấn... chỉ khác ở chỗ mặt mũi chị này tươi tỉnh, không lạnh lùng cau có như chị kia.
Chị mang ra cho chúng tôi rá cơm đầy bốc khói. Nhìn thấy những hạt cơm trắng muốt ruột gan tôi thêm cồn cào. Hai suất cơm phải bốn người ăn khỏe mới hết. Chị bưng ra một tô mắm ruốc nấu loãng nóng hổi. Mùi mắm chưng mỡ thơm lừng. Cái mùi ấy làm tôi cảm nhận không những chỉ bằng khứu giác, mà còn như bị nó chui qua từng lỗ chân lông thâm vào lục phủ ngũ tạng của tôi. Tôi nói đùa với đồng chí hậu cần: “Lúc đang chết có được cái mùi này ắt phải vùng dậy hít lấy hít để ăn cho sướng cái đã rồi sau đó có sống hay chết cóc cần.”
Chẳng mấy chốc suất cơm cho bốn người ăn hai đứa tôi vét sạch. Hình như thấy khách đang có vẻ thòm thèm, chị nuôi bổ sung nửa rá cơm bằng khẩu phần cho hai người ăn. Chị cười rất tươi: “Tôi biết mấy chú đang đói. Suốt năm có lúc nào được no đâu. Ăn đi mấy em. Ăn hết chị bới thêm.”
Câu nói của chị vừa thốt ra đã làm tôi muốn nghẹn lại vì xúc động. Tôi cảm thấy như được nhấm từng chút, từng chút một thứ nước sâm quý thấm vào lan toả khắp toàn thân. Ôi! Tiếng nói của chị sao nhẹ nhàng ấm êm và thân thương đến thế. Hoàn toàn không chút giả tạo mà thể hiện cả tấm lòng vàng.
Tôi nói: “Ăn thế phạm vào tiêu chuẩn người khác lấy đâu chị bù”.
Chị cười xởi lởi: “Đừng lo mấy em. Cho những chiến binh của Bác Hồ ăn no đánh thắng giặc Mỹ xâm lược chị có bị kỷ luật cũng vui lòng!”
Không cần những lời hô hào dài dòng, động viên sáo rỗng, chỉ một câu nói của chị cũng đủ sức lay động hàng trăm con tim của chiến sĩ chúng tôi. Tôi không thốt ra lời, thầm cảm ơn chị và tự hứa sẽ làm hết trách nhiệm của một chiến binh.
“Ra thế - cậu trợ lý hậu cần thì thầm với tôi: Đây toàn người “Khu nem”. Ngoài binh trạm Đ theo chủ trương kể chuyện cũng “Khu nem”. Đều “năm eo” như nhau sao “eo” này tốt thế thủ trưởng nhỉ”.
Tôi suỵt khẽ: Ậy, đừng vơ đũa cả nắm. Tục ngữ ta có câu: “Mía sâu có đốt nhà dột có nơi. Đâu đâu cũng có anh hùng, đâu đâu cũng có thằng khùng thằng điên, lựa chi nem với chả eo với xèo”.
- À thủ trưởng cũng người khu 5 phải không?
- Không, mình quê Bình Thuận. Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh mình thuộc Liên khu 5. Bây giờ tách ra trở lại khu 6 thường gọi T6 trực thuộc Bộ Tư lệnh B2(1).
Tôi tò mò hỏi chị nuôi vì sao đến trạm này có nhiều gạo và lắm thứ thế? Chị không giấu giếm giữ bí mật gì với cánh lính nhà. Qua chị tôi mới biết tất cả những thứ mà chúng tôi vừa có là do được tiếp tế theo đường dây từ Campuchia vào. Ta có những cán bộ kinh tài, hậu cần trong lớp những nhà buôn, nhà kinh doanh thành đạt giàu có sang trọng. Công việc của họ là tạo mối quan hệ tốt đẹp với các nhà chức trách từ Trung ương đến địa phương cả các sĩ quan quân đội, cảnh sát. Qua đó ta nhận hàng từ miền Bắc cập cảng biển Campuchia, hoặc tổ chức thu mua tại chỗ tuồn qua biên giới về các chiến khu ta. Hàng không chỉ có lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm mà còn vải vóc, xăng dầu, thuốc men dụng cụ y tế, các loại máy móc, dụng cụ văn phòng kể cả vũ khí trang cụ quân nhu... Chị cười, không biết chị nói đùa hay thật - nếu cần ta mua cả xe ôtô vận tải, xe tăng... cũng được. Dĩ nhiên qua các “phi vụ này” người Camphuchia hưởng lợi không nhỏ. Ngoài việc có thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá nhập khẩu có lợi nhuận cao, họ còn được trám những xấp USD vào miệng. Nếu không dễ gì họ để cho mình làm. Chị căn dặn chúng tôi kín miệng chuyện này lộ ra nhiều người biết không lợi.
Ba giờ chiều đơn vị đến. Sau khi tổ chức trú quân cho các đại đội, tôi bàn với chính trị viên bí thư tiểu đoàn triệu tập cuộc họp Đảng uỷ ngay chiều hôm ấy. Ngoài việc đánh giá công tác lãnh đạo trong cuộc hành quân đường dài, rút ra những điều cần bổ khuyết, khái quát nhiệm vụ sắp đến... Còn một chuyên đề đặc biệt là lãnh đạo chuyện... ăn. Ăn đói đem ra bàn bạc để lãnh đạo đã đành. Bây giờ được ăn no cũng phải bàn. Nếu không quản lý chặt, đả thông cho thấu tình đạt lý dễ bị cảnh “đói góp no dồn” xảy ra chuyện bội thực, phung phí không hợp lý. Họp cán bộ quân chính tôi quy định: cho phép ăn ngày bốn bữa, mỗi bữa chừng 300 gam gạo. Chỉ huy đại đội phải giám sát ngay tại chỗ việc cân đong đo đếm. Tiêu chuẩn này chỉ trong 3 ngày nghỉ. Hành quân rút lại 3 bữa. Một ký lô gạo/ngày. Như thế vừa bồi dưỡng anh em lấy lại sức, vừa tiêu thụ hết phần gạo truy lĩnh. Với số thực phẩm, nhu yếu phẩm khá phong phú vừa được lĩnh, gạo đủ no, tôi hy vọng anh em sẽ tránh được căn bệnh đột biến như tôi vì cơ thể thiếu sinh tố.
Tuy nhiên số gạo còn lại khi hành quân, mỗi người phải cõng trên vai không dưới 15 ký. Súng đạn trang bị mỗi cá nhân trung bình 30 đến 35 ký lô. Thêm chửng ấy gạo nữa sức nặng phải mang vác bằng sức nặng của bản thân mình. Đem ra bàn trong hội đồng quân nhân anh em cười vui: “Thủ trưởng không phải lo chuyện này. Cái bụng được no vai sẽ là vai sắt, vai sắt chân đồng nặng mấy cũng nổi, xa mấy chẳng chùn”. Ôi! Tham vọng của người chiến sĩ chúng tôi chẳng mong sau này được làm tướng làm tá gì. Chỉ mong được ăn no đủ sức đánh thắng giặc Mỹ.
Hoạt động miệt rừng núi Tây Nguyên, cái nắng nóng gay gắt mùa hè ít gặp phải. Ở miền rừng thường giảm 3 đến 5 độ C so với đồng bằng. Ban đêm dù thời điểm mùa nào vẫn rét. Với lính trừ các đồng chí cấp đoàn lớn tuổi, hầu hết cán bộ cơ sở và chiến sĩ đang tuổi thanh niên mới lớn, cường độ lao động của lính rất cao, 7 lạng hay 7 lạng rưỡi gạo cho mỗi khẩu phần/ngày chưa thấm vào đâu. Trời càng lạnh càng chóng đói. Với tôi đã quá 30 tuổi, sức ăn thường ngày phải từ một đến một ký hai gạo. Cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn được lệnh về Bộ Tư lệnh sư đoàn hay Bộ Tư Lệnh B3 họp hội nghị học tập trong bụng khấp khởi mừng thầm bởi lẽ được ăn no. Đến nơi vừa đặt balô phải đăng ký ngay với nhà bếp. Muốn ăn bao nhiêu? Một ký, một ký hai hay một ký rưỡi tùy thích không hạn chế, cấp trên có dịp bồi dưỡng cán bộ lâu lâu được tập trung về bằng cho ăn no, nhưng không được bỏ thừa lãng phí. Tôi chú ý không bữa nào thừa dù một muỗng cơm. Thức ăn chủ lực thường xuyên là thịt trâu kho mặn. Đổi bữa có loại chao đặc như bơ, cá tra khô, củ cải, cải bẹ cây muối. Mọi thứ đều được đóng thùng, thùng thiếc hoặc thùng gỗ. Chúng tôi xem đây là những món hàng cao cấp được ưu đãi trong những dịp thế này lâu lâu mới có.
Sư đoàn lúc này dưới quyền chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh B3.
Tôi được đề bạt làm tham mưu phó trung đoàn. Anh Huế đang là chủ nhiệm pháo binh sư đoàn được điều xuống thay đồng chí Cảnh hy sinh, làm tham mưu trưởng.
Quen biết nhau từ khi tôi được điều về làm trợ lý tham mưu tác chiến sư đoàn. Giờ công tác bên nhau đỡ bỡ ngỡ. Điều mà cả hai chúng tôi có phần ngại ở dáng vẻ bên ngoài của trung đoàn trưởng C và chính ủy H. Hai người không vồn vã, gần như lạnh nhạt lần tiếp xúc đầu tiên với chúng tôi. Lúc còn là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3, tôi chưa dịp nào được chuyện vãn tâm tình với chính ủy và trung đoàn trưởng ngoài những chỉ thị mệnh lệnh khô khan.
Sau lần thoát chết trong một chuyến nghiên cứu địa hình chạm phải biệt kích Mỹ phục kích ở bãi Dinamo, tôi bị cơn sốt rét ác tính quật ngã. Căn bệnh này rất nguy hiểm, nếu không cấp cứu kịp thời dễ bị tử vong trong vài hôm.
Gần một tháng điều trị tại quân y sư đoàn, tôi ra viện. Thời gian chữa bệnh tôi không được thông tin gì của trung đoàn. Đến lúc về gặp anh Huế, tôi sững sờ khi biết sư đoàn đã giải thể. Trung đoàn 95B biên chế tổ chức thành những đội vũ trang công tác thọc sâu hoạt động vùng đồng bằng các tỉnh khu 5. Các đơn vị còn lại của sư đoàn 10 ở cấp trung đoàn sát nhập bổ sung vào sư đoàn bộ binh 1 do đồng chí Nguyễn Hữu An - phó Tư lệnh B3 kiêm sư đoàn trưởng.
Tôi được giữ lại không biên chế vào các đoàn vũ trang công tác của trung đoàn 95B. Bố trí nhiệm vụ cho tôi do phòng cán bộ B3 và sư đoàn 1.
Lúc này tôi chú ý đến mọi người. Ai cũng bận rộn hối hả trong việc chuẩn bị. Đêm nay còn đây, mờ sáng mai họ lên đường. Từ rừng núi vùng cao nguyên họ chuyển về hoạt động vùng đồng bằng ven biển.
Tôi đến chào từ biệt các đồng chí chỉ huy trung đoàn. Chính ủy bắt tay tôi với nét mặt trầm ngâm đượm buồn. Ông ngỏ lời xin lỗi những gì không phải trong cách cư xử của ông và trung đoàn trưởng. Với tôi, người cộng sự sát cánh bên các ông, suốt thời gian tôi bị bệnh “thập tử nhất sinh” ở bệnh xá không nhận được một lời nhắn đến thăm hỏi. Bây giờ khi người ta chia tay xa nhau mới chợt nhận ra cái điều cần phải có bên nhau đáng lý ra từ những ngày đầu.
Tôi trằn trọc không sao chợp mắt. Dù gì tuy trong thời gian sống với đơn vị chưa nhiều nhưng tại đây tôi trưởng thành. Qua năm ba trận tác chiến trong đội hình trung đoàn đã hé mở cho tôi bước đầu hiểu biết về đối tượng tác chiến rõ nét hơn. Cái ta cần tránh điều cần bổ khuyết và phát huy. Những vấn đề này càng về sau càng giúp tôi tích lũy nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
Đi hay ở - về đâu? Tôi không bận tâm.
Vào chiến trường đâu cũng đánh Mỹ. Đâu cũng gian khổ ác liệt. Đâu cũng không có chỗ cho sự trùm chăn an toàn tìm cách xoay xở để làm “con cua bò lùi”.
Mọi người ra đi. Còn lại mình tôi với chiếc lán trống không. Tôi quen cảnh này nên không lấy gì làm lẻ loi cô độc. Mặc dù thời tiết sang hè, miệt rừng cao nguyên buổi sáng vẫn se lạnh. Tôi quàng tấm đắp lên người chờ ai đó trong cơ quan cán bộ đến giao nhiệm vụ.
Người tôi đợi té ra anh Lân chỗ quen biết cũ. Những năm 1958 - 1961, anh là trưởng ban cán bộ trung đoàn 90 sư đoàn 324. Lúc ấy tôi là cán bộ đại đội thuộc trung đoàn. Thời ấy nhân ngày nghỉ tôi đến gặp anh năn nỉ ỉ ôi xin được cái phép vù về thăm vợ mới cưới cách xa trung đoàn gần 70 ky lômét. Từ khi biên chế sư đoàn thành lữ đoàn đã 5 năm, đến nay tôi mới gặp lại anh.
Anh hỏi tôi có biết trung đoàn 88 không? Từ lâu tôi vẫn biết trung đoàn này nằm trong đội hình sư đoàn 10 cùng với trung đoàn 95B của chúng tôi và trung đoàn 101. Trước đây nó nằm trong đội hình sư đoàn 308 (Thời kháng chiến chống Pháp, sư đoàn 308 là sư đoàn chính quy được thành lập đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được gọi là đại đoàn Quân Tiền phong). Hè 1965 Bộ Tổng Tư lệnh quyết định tách trung đoàn 88 ra khỏi sư đoàn 308, chuyển về sư đoàn mới thành lập có bí danh Nông trường 10 để vào chiến trường.
Hiện giờ trung đoàn đang củng cố. Trong chiến dịch Aso, trung đoàn 88 không trực tiếp chiến đấu. Nhiệm vụ của trung đoàn sẵn sàng cơ động đánh địch đổ bộ đường không và biệt kích bảo vệ phía sau sư đoàn theo phương án tôi đã đi khảo sát chuẩn bị. Một nhiệm vụ quan trọng khác là thành lập cung trạm đường dây vận tải tiếp tế gạo cho lực lượng phía trước ở mặt trận Aso. Cho đến khi đặt chân lên đất B3, các đơn vị trong trung đoàn chưa có dịp được sử dụng tham gia tác chiến trận đánh nào.


