Bảy giờ sáng trên nóc xe và những khuôn hình B-52 thất trận
Mang chiếc máy quay phim nặng hàng chục kilôgam qua chiến trường Lào, Quảng Trị và Hà Nội, Nguyễn Văn Nẫm đã ghi lại nhiều hình ảnh lịch sử, trong đó có cảnh xác máy bay B-52 được kéo qua phố sáng 28-12-1972.
Khoảng bảy giờ sáng ngày 28 tháng 12 năm 1972, Nguyễn Văn Nẫm đi qua khu vực vườn Bách Thảo, Hà Nội. Thành phố vừa trải qua 12 ngày đêm bị máy bay Mỹ tập kích. Nhiều khu phố còn ngổn ngang gạch vỡ; còi báo động và tiếng bom vẫn ám ảnh người dân.
Bất ngờ, từ phía đường Hoàng Hoa Thám vang lên những tiếng reo hò.
Nguyễn Văn Nẫm lập tức nhận ra trước mắt mình có thể là một hình ảnh lịch sử. Ông trèo lên nóc chiếc xe đang di chuyển, nâng máy quay và hướng ống kính về phía đám đông. Bộ đội cùng người dân đang kéo những phần xác của một chiếc B-52 trên đường, đưa về hướng dốc Ngọc Hà.
Chiếc máy bay từng được xem là biểu tượng của sức mạnh không quân Mỹ giờ nằm dưới mặt đường Hà Nội. Người dân đứng kín hai bên, vừa nhìn vừa reo mừng. Trong khi chiếc xe rung lắc, người quay phim phải giữ thân mình khỏi ngã, đồng thời cố giữ máy thật chắc để hình ảnh không bị chao đảo.
Chỉ cần chậm vài phút, khoảnh khắc ấy có thể biến mất.
Những mét phim được ghi trong buổi sáng đó trở thành một phần ký ức bằng hình ảnh về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Nhưng để có mặt đúng lúc ấy, Nguyễn Văn Nẫm đã trải qua một hành trình dài hơn nhiều: từ người học thiết kế mỹ thuật trở thành phóng viên mang máy quay vào giữa bom đạn.
Nguyễn Văn Nẫm, còn sử dụng bút danh báo chí Lê Mai Phong, là học viên khóa đầu tiên của lớp họa sĩ thiết kế tại Trường Điện ảnh Việt Nam. Sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Xưởng phim Thời sự và Tài liệu Việt Nam, nay là Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương.
Bước ngoặt đến vào năm 1968, khi ông trở thành một trong 30 học viên của lớp quay phim mặt trận đầu tiên và cũng là khóa học duy nhất được tổ chức theo mô hình đặc biệt này.
Các học viên không chỉ học cách sử dụng máy quay. Họ phải biết viết tin, chụp ảnh, in tráng, bảo quản phim nhựa và xử lý những trục trặc kỹ thuật thông thường. Ra chiến trường, mỗi người phải hoạt động như một tổ làm báo thu nhỏ, bởi không phải lúc nào cũng có người hỗ trợ.
Khóa học kéo dài 18 tháng tại nơi sơ tán, sau đó là ba tháng huấn luyện quân sự. Người quay phim phải biết hành quân, tránh bom, tìm nơi trú ẩn, nhận biết địa hình và bảo vệ tài liệu. Họ mang theo chiếc máy quay nặng hàng chục kilôgam, phim nhựa, dụng cụ kỹ thuật, tư trang và cả vũ khí cá nhân.
Khác với máy quay kỹ thuật số ngày nay, phim nhựa không thể xem lại ngay tại chỗ. Người quay chỉ biết hình ảnh có thành công hay không sau khi cuộn phim được đưa về hậu phương, tráng rửa và chiếu thử. Nếu ánh sáng sai, máy rung hoặc phim bị ẩm, toàn bộ những khoảnh khắc đánh đổi bằng mạng sống có thể trở thành những khuôn hình không sử dụng được.
Nhiệm vụ chiến trường đầu tiên của Nguyễn Văn Nẫm là sang Lào.
Trong ba năm, ông theo các đơn vị hoạt động tại Trung và Hạ Lào, ghi hàng nghìn mét phim về bộ đội cùng nhân dân nước bạn. Với chiếc máy quay phim 16 milimét, ông thực hiện phóng sự về cuộc giải phóng Mường Phìn.
Trên chiến trường, người quay phim phải vượt qua một bản năng rất tự nhiên: khi máy bay lao xuống hoặc bom nổ gần, con người muốn cúi thấp và tìm chỗ ẩn nấp. Nhưng nếu ống kính cũng cúi xuống, lịch sử sẽ không được ghi lại.
Trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, Nguyễn Văn Nẫm chứng kiến máy bay bốc cháy rồi rơi xuống. Giữa tiếng nổ và khói lửa, ông phải giữ đôi tay không run để máy tiếp tục chạy.
Những hình ảnh thực hiện tại Lào giúp ông được Chính phủ Lào trao Huy chương Anh dũng chống Mỹ cứu nước.
Năm 1969, Nguyễn Văn Nẫm trở về Hà Nội và nhận nhiệm vụ đặc biệt: ghi hình Lễ Quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình. Máy quay của ông chuyển từ chiến trường đầy tiếng súng sang một quảng trường lặng trong nước mắt. Nhưng trong cả hai hoàn cảnh, yêu cầu vẫn giống nhau: phải trung thực và không để cảm xúc cá nhân làm mất đi khoảnh khắc không thể lặp lại.
Sau đó, ông tiếp tục làm nhiệm vụ tại Viêng Chăn. Đến năm 1972, Nguyễn Văn Nẫm xung phong đi B, vượt Trường Sơn vào Quảng Trị đúng thời điểm chiến sự ác liệt.
Trên bờ sông Thạch Hãn, ông nhìn thấy thi thể người và động vật trôi theo dòng nước, những chiếc xe lao xuống sông và nhiều vùng đất bị bom đạn cày xới. Người phóng viên không chỉ đối diện nguy hiểm trong lúc quay mà còn phải bảo vệ cuộn phim sau khi bấm máy.
Một cuộn phim chưa đưa được về nơi an toàn vẫn là một tài liệu có thể mất bất cứ lúc nào. Đồng nghiệp của Nguyễn Văn Nẫm có người hy sinh trên đường mang phim về hậu phương. Mỗi lần thắp hương cho họ, ông càng hiểu rằng những hình ảnh đến được phòng dựng đôi khi đã phải đổi bằng sinh mạng.
Bản thân Nguyễn Văn Nẫm hai lần bị thương. Một lần, ông bị thương ở chân trong khi quay hình tại khu vực cột cờ Hiền Lương. Lần khác, sức ép của bom B-52 tại Đài Phát thanh Mễ Trì làm ông bị thương ở đầu.
Tại một trận địa pháo phòng không 37 milimét, bom nổ dữ dội, vùi lấp máy móc của đoàn quay phim trong đất. Khi thiết bị được đào lên, cuộn phim nằm trong máy vẫn còn nguyên vẹn. Phần vỏ kim loại đã che chắn cho những hình ảnh mà người quay vừa ghi được.
Cuối tháng 12 năm 1972, Nguyễn Văn Nẫm có mặt tại Hà Nội trong cuộc tập kích đường không quy mô lớn của Mỹ. Thành phố vừa chiến đấu vừa cố ghi lại bằng chứng về các cuộc ném bom và kết quả đánh trả của quân dân miền Bắc.
Sáng 28 tháng 12, cuộc gặp tình cờ tại vườn Bách Thảo đã mang đến một trong những khuôn hình đáng nhớ nhất của ông. Không có kịch bản, không ai báo trước và cũng không thể yêu cầu đoàn người thực hiện lại. Người quay phim chỉ có vài giây để quyết định.
Ông chọn nhảy lên nóc xe.
Nhờ quyết định đó, thế hệ sau có thể nhìn thấy không chỉ xác một chiếc máy bay, mà còn thấy thái độ của người Hà Nội sau những đêm bom: đám đông ùa ra đường, bộ đội và nhân dân cùng kéo chiến lợi phẩm, những gương mặt hiện rõ niềm vui khi cuộc tập kích đã bị đánh bại.
Những thước phim của Nguyễn Văn Nẫm cùng đồng nghiệp được sử dụng để xây dựng nhiều tác phẩm, trong đó có các phim về chiến trường Lào, Quảng Trị và trận chiến bảo vệ Hà Nội. Các tác phẩm tiêu biểu gắn với quá trình công tác của ông gồm Giải phóng Mường Phìn, Niềm vui của O Thử, Quảng Trị ngày đầu giải phóng và Tội ác tột cùng – Trừng phạt đích đáng.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông chưa dừng máy. Nguyễn Văn Nẫm ngồi trên trực thăng trong khoảng một tháng để ghi lại hệ thống căn cứ quân sự cũ từ sông Bến Hải vào Sài Gòn, từ Côn Đảo đến Phú Quốc. Công việc ấy lưu giữ diện mạo chiến trường khi dấu vết chiến tranh còn chưa bị thời gian và công cuộc xây dựng làm thay đổi.
Kho tư liệu gắn với hành trình nghề nghiệp của ông lên đến hàng vạn mét phim.
Năm 2019, Nguyễn Văn Nẫm được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân trong lĩnh vực điện ảnh. Nhưng phần thưởng đặc biệt nhất của một người quay phim tài liệu có lẽ là việc những hình ảnh của mình tiếp tục được chiếu nhiều thập niên sau ngày bấm máy.
Máy quay của Nguyễn Văn Nẫm không ngăn được bom rơi. Nó cũng không thay thế được súng của người chiến sĩ phòng không. Công việc của ông là giữ cho những gì đã xảy ra không biến mất.
Bởi nếu buổi sáng 28 tháng 12 năm ấy không có một người lập tức trèo lên nóc xe và nâng máy quay, chúng ta vẫn có thể đọc trong sách rằng B-52 đã bị bắn rơi. Nhưng sẽ khó cảm nhận trọn vẹn khoảnh khắc người Hà Nội tận mắt nhìn thấy biểu tượng sức mạnh của đối phương nằm dưới bánh xe, giữa tiếng reo vang của một thành phố vừa bước qua 12 ngày đêm khói lửa.



