Bảy ngày chờ những người trở về từ Gạc Ma
Tháng 3 năm 1988, bác sĩ quân y Từ Công Tào cùng Đội điều trị 486 chuẩn bị một cơ sở có khả năng tiếp nhận hàng trăm thương binh. Nhưng phải bảy ngày sau trận Gạc Ma, 14 người lính bị thương mới về tới đất liền.
Tháng Ba năm 1988, tại căn cứ của Vùng 4 Hải quân ở Cam Ranh, Đại úy, bác sĩ Từ Công Tào nhận một nhiệm vụ không có tiếng súng nhưng cũng không cho phép một phút lơ là: chuẩn bị đón thương binh từ Trường Sa trở về.
Ông khi ấy là Đội phó Đội điều trị 486 Hải quân. Trước tình hình ngoài biển ngày một căng thẳng, đơn vị được lệnh chuyển cơ sở sang một khu nhà ba tầng. Giường bệnh, thuốc men và dụng cụ y tế được tập hợp; một tổ quân y từ Thành phố Hồ Chí Minh cũng được điều ra chi viện. Cơ sở mới dự kiến có thể tiếp nhận khoảng 500 thương, bệnh binh.
Đó là một con số rất lớn. Đằng sau mỗi chiếc giường được chuẩn bị là khả năng sẽ có một người lính từ biển trở về với những vết thương chưa ai biết nặng nhẹ ra sao. Bác sĩ Tào và đồng đội chỉ có thể chuẩn bị mọi thứ trong khả năng của mình rồi chờ đợi.
Sáng 14 tháng 3 năm 1988, súng nổ tại các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Tại Gạc Ma, những người lính công binh và hải quân đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ đảo đã phải đối mặt với một cuộc tấn công bằng vũ lực. Sáu mươi tư cán bộ, chiến sĩ Việt Nam hy sinh; nhiều người khác bị thương. Hai tàu HQ-604 và HQ-605 bị đánh chìm, còn tàu HQ-505 bị hư hại nặng sau khi lao lên bãi Cô Lin để giữ đảo.
Nhưng từ nơi súng nổ trở về đất liền là cả một quãng đường dài. Những người còn sống phải đưa đồng đội bị thương bằng xuồng nhỏ sang đảo Sinh Tồn để sơ cứu. Giữa biển xa, trong điều kiện thuốc men và phương tiện hạn chế, mỗi giờ trôi qua đều làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và biến chứng.
Ở Cam Ranh, những căn phòng của Đội điều trị 486 đã sẵn sàng mà thương binh vẫn chưa về.
Một ngày. Rồi hai ngày. Sau đó là những ngày tiếp theo.
Đội ngũ quân y không biết chính xác mình sẽ phải đối diện với bao nhiêu ca bỏng, bao nhiêu vết thương do mảnh pháo, cũng không biết còn bao nhiêu người có thể được đưa về. Họ chỉ biết nhiệm vụ của mình là giữ cho cơ sở luôn trong trạng thái tiếp nhận và chuẩn bị phương án chữa trị cho những đồng đội đang trên đường từ Trường Sa trở lại.
Phải bảy ngày sau trận đánh, 14 chiến sĩ bị thương mới về tới đất liền và được chuyển vào Đội điều trị 486. Trong số đó có sáu trường hợp bị thương rất nặng.
Cuộc chiến cứu người lúc này mới thực sự bắt đầu.
Dù đã được sơ cứu và cắt lọc vết thương ngoài đảo, thời gian vận chuyển kéo dài cùng điều kiện thiếu thốn khiến nhiều vết thương sưng tấy, nhiễm trùng. Có người bị bỏng do đạn pháo. Có người mang trên cơ thể những vết rách sâu do mảnh đạn. Riêng chiến sĩ Nguyễn Văn Lanh, người đã lao ra bảo vệ lá cờ tại Gạc Ma, có một vết thương nặng do lưỡi lê đâm trúng.
Bác sĩ Tào cùng các y, bác sĩ phải phẫu thuật lại những vết thương đã nhiễm trùng, loại bỏ phần mô bị tổn hại và chăm sóc cẩn thận các vùng da bị bỏng. Trong hoàn cảnh thuốc men và y cụ còn thiếu, việc điều trị không chỉ đòi hỏi chuyên môn mà còn cần sự bền bỉ. Sau bảy ngày lênh đênh và chịu đau đớn, cơ thể của các thương binh đã suy yếu; mỗi vết thương đều cần được theo dõi sát sao.
Các chiến sĩ được giữ lại Đội điều trị 486 để chữa trị và an dưỡng. Chỉ khi tình trạng ổn định, họ mới được chuyển tiếp vào Bệnh viện Quân y 87.
Lịch sử Gạc Ma thường được nhớ tới qua tiếng súng, lá cờ và vòng tròn của những người lính quyết không rời vị trí. Nhưng phía sau trận chiến ấy còn có một mặt trận lặng lẽ hơn: những chiếc xuồng đưa thương binh sang Sinh Tồn, những lần sơ cứu giữa biển và những y, bác sĩ chờ sẵn trên đất liền.
Bác sĩ Từ Công Tào thuộc về mặt trận không tiếng súng đó. Ông không thể làm cho bảy ngày đường biển ngắn lại, cũng không thể khiến những vết thương chưa từng xuất hiện. Việc ông và đồng đội có thể làm là chuẩn bị trước khi thương binh tới và giành giật sự sống ngay khi họ được đưa qua cửa phòng điều trị.
Nhiều năm sau, người bác sĩ quân y ấy vẫn gắn bó với ký ức Trường Sa. Trước khi nghỉ hưu, ông dùng khoản tiền hỗ trợ trong những năm công tác để in 300 cuốn thơ mang tên Sóng Trường Sa, rồi gửi những cuốn sách ấy ra các đảo. Trong thơ ông có hình ảnh những đụn mây ở chân trời, nhìn từ biển xa mà tưởng như núi đồi quê hương.
Có lẽ người từng chờ những người lính trở về hiểu hơn ai hết khoảng cách giữa đảo và đất liền. Khoảng cách ấy được đo bằng hải lý, nhưng trong tháng Ba năm 1988, nó còn được đo bằng bảy ngày chờ đợi, 14 thương binh và những ca trực không được phép mất hy vọng.



