Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bảy Núi vẫy gọi: Cuộc "lật cánh" chiến lược sang Tây Nam Bộ

Đoạn trích phản ánh bước ngoặt chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cuối năm 1969, khi Mỹ thực thi chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" và đẩy mạnh bình định tại đồng bằng sông Cửu Long. Nội dung tập trung vào nhiệm vụ luồn sâu, lật cánh của lực lượng Đặc công chủ lực Miền từ Đông Nam Bộ sang mặt trận Tây Nam Bộ (vùng Tịnh Biên, Tri Tôn – An Giang). Với sự kết hợp giữa bộ binh (Sư đoàn 1) và bốn tiểu đoàn đặc công tinh nhuệ, cuộc hành quân này nhằm phá tan âm mưu bình định, hỗ trợ nhân dân

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào giữa nãm 1969, khái niệm “Việt Nam hóa chiến tranh” được Ních-xơn nhắc đến trong lần gọi Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống của cái gọi là chính phủ “Việt Nam Cộng hòa” đến Mít-uây (một hòn đảo nằm giữa Thái Bình Dương) nhận lệnh tiếp tục chiến tranh theo cung cách mới; và chỉ năm tháng sau đó - tháng 11 năm 1969, “Việt Nam hóa chiến tranh: chính thức trở thành một đường lối, một chính sách gọi là “thức thời” nhằm cứu hơn nửa triệu quân Mỹ đang bị sa lầy trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.

Như vậy là “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nich-xơn được thay thế cho “Phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giôn-xôn. Hai khái niệm khác nhau về hình thức diễn tả nhưng thống nhất với nhau về mục đích - Mỹ sẽ làm hết sức mình để đưa quân đội ngụy Sài Gòn từ 61 vạn năm 1969 lên gần một triệu vào năm 1970-1971, sao cho về lục quân phải đạt hàng thứ hai (về quân số) trong số các nước ở châu Á, có như vậy quân ngụy Sài Gòn mới đủ mạnh để thay quân Mỹ làm công cụ tiếp tục thực hiện chiến tranh xâm lược thực dân theo kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Bởi Mỹ đi mà vẫn ở lại.

Khi mà biện pháp tiến hành chiến tranh thay đổi thì kéo theo hàng loạt vấn đề khác như tổ chức quân đội, tổ chức chiến trường phân vùng trách nhiệm hành quân cùng tính chất của cuộc hành quân đó, v.v... cũng thay đổi. Sự căng thẳng nóng bỏng ở mỗi chiến trường cũng có những nét khác nhau. Tùy theo địa lý, dân cư và điều kiện kinh tế của mỗi chiến trường cần thiết đến đâu cho chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” mà Mỹ sẽ có những nỗ lực khác nhau về số lần các cuộc hành quân và tính chất của chúng. Có thể ở nơi đây, chiến trường này, Mỹ vẫn coi trọng cả hai gọng kìm “quét giữ” và “bình định”, ở nơi khác, chiến trường khác, địch lại tập trung hướng sự nỗ lực vào cuộc hành quân “bình định”.

Đồng bằng sông Cửu Long mà địch gọi là “Vùng 4 chiến thuật”1 từ đầu Xuân 1969 bỗng trở nên sôi động khác thường và mang những nét riêng. Ở đây địch cho là vùng trọng điểm của kế hoạch bình định, nên chúng dồn mọi nỗ lực tối đa để thực hiện âm mưu này. Đầu tháng 1 năm 1969, địch mở cuộc hành quân “Quyết thắng” vào vùng sâu trên một diện rộng từ Rạch Giá qua Vị Thanh đến Sóc Trăng để xiết chặt hơn nữa ách kìm kẹp của chúng ở vùng này. Sang tháng 2 và 3, nhịp độ các cuộc hành quân đầy tội ác đó lại tăng lên với những biện pháp tàn bạo hơn. Mỹ đã tập trung hầu hết các lữ đoàn thuộc sư đoàn 9 Mỹ, các sư đoàn 7, 9, 21 ngụy mở các cuộc hành quân với các thủ đoạn dã man chưa từng thấy. Riêng ở vùng Cô Tô thuộc huyện Tri Tôn (An Giang) địch huy động hơn mười ngàn quân lính do một trung tướng Mỹ chỉ huy đánh vào một khu vực có không gian hẹp. Tại đây địch cho phun chất độc hóa học, cho 50 lần chiếc máy bay B.52 thả 6.000 tấn bom nhằm tàn phá xóm làng, hủy diệt sự sống để thực hiện âm mưu bình định - gom dân. Nhưng tội ác điển hình mang tính răn đe ấy vẫn không khuất phục nổi tinh thần đấu tranh của nhân dân.

Bình định và chống bình định là mặt trận đấu tranh cực kỳ quyết liệt đang diễn ra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Địch tiến hành bình định bằng tất cả các thủ đoạn dã man và tàn bạo, thì nhân dân ta cũng chống lại các âm mưu mang ý nghĩa chiến lược với đầy kỳ vọng này của 3 địch bằng tất cả sức mạnh, với ý chí, lòng tin và trí tuệ thông minh của mình.

Tuy nhiên nếu so sánh tương quan đơn thuần về quân sự, thì ta còn có hạn chế nhất định, nên về hình thái chung ở vùng đồng bằng Nam Bộ lúc này địch vẫn còn khống chế được nhân dân; bộ máy kìm kẹp của địch vẫn còn dùng các thủ đoạn phát xít để khai thác các thế mạnh về kho người, kho của ở đây để ném vào cuộc chiến tranh xâm lược của chúng...

Tôi được biết tình hình trên đây là do các đồng chí trong Cục tác chiến Miền trao đổi lại trước khi gặp Bộ tư lệnh Miền nhận nhiệm vụ mới.

Cuối tháng 12 năm 1969, ỏ mặt trận đường số 13 trở về tôi thấy vui vì lực lượng đặc công Đông Nam Bộ đã kiên cường bám trụ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Bộ tư lệnh Miền giao cho - đánh thẳng vào các căn cứ lớn của quân đội Mỹ. Riêng tôi vẫn còn vương vấn về cái hận Phước Vĩnh. Nhưng sau khi Bộ tư lệnh Miền gọi lên giao nhiệm vụ thì mọi ưu tư đã tan biến, tôi thực sự phấn khởi với nhiệm vụ mới được giao; tham gia vào mặt trận đấu tranh chống âm mưu bình định của địch đang diễn ra ác liệt ở đồng bằng sông Cửu Long. Bộ đội chủ lực Miền, kể cả đặc công, được tăng cường cho mặt trận này. Như vậy là lực lượng luồn sâu vào chiến trường Tây Nam Bộ1 lần này có sư đoàn 1 và bốn tiểu đoàn đặc công trực thuộc Miền. Anh Ba Trân, tư lệnh sư đoàn kiêm tư lệnh chung, chỉ huy cả hai lực lượng bộ binh và đặc công. Đây là lần đầu tiên ta tổ chức đơn vị hợp thanh bộ binh - đặc công cùng làm một nhiệm vụ chung là thông qua hoạt động quân sự cụ thể của mình mà hỗ trợ trực tiếp cho phong trào đấu tranh mở vùng mở mảng của nhân dân đang được bắt đầu theo chủ trương chung của Trung ương cục và Quân ủy Miền.

Và đây cũng là lần đầu một lực lượng lớn bộ đội chủ lực Miền tiến sâu vào một chiến trường mà địa hình ở đây không thuận cho cơ động lực lượng, cho tác chiến tập trung, nên các anh trong Bộ tư lệnh Miền rất quan tâm chỉ đạo chúng tôi trong quá trình chuẩn bị. Trước khi đoàn quân lên đường, đồng chí Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Miền đến thăm hỏi, vừa để động viên tiễn đưa vừa căn dặn thêm trước khi chúng tôi về dưới đó.

Anh nói: Chiến trường đồng bằng Nam Bộ giữ một vị trí quan trọng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, vì ta và địch đều dựa vào nơi kho người kho của này để xây dựng và phát triển lực lượng. Là vùng đồng bằng có nhiều sông rạch - những tuyến vật cản tự nhiên lợi hại, nên địch có ý kiến biến noi đây thành căn cứ chiến lược co cụm cuối cùng nếu tình thế bất lợi, để chờ thời cơ phản công lại ta. Từ cuối năm 1969 đầu năm 1970, địch xem đồng bằng Nam Bộ như chiến trường chính, tướng tá Mỹ ở Sài Gòn đều khẳng định kết quả thu được ở vùng đồng bằng châu thổ phì nhiêu này “sẽ là cái thước đo sát đứng” và “có ý nghĩa quyết định” chiều hướng phát triển toàn bộ công cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cũng chính vì lẽ đó mà những ngày gần đây, theo tin tức mới nhận được, tướng A-bram, tư lệnh quân Mỹ ở Sài Gòn đã ném thêm sư đoàn lính thủy đánh bộ (lực lượng dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn) vào vùng nầy để cùng ba sư đoàn chủ lực ngụy đã đứng chân sẵn ở đây2 làm nhiệm vụ xung kích yểm trợ bình định. Ngoài ra Mỹ đang xúc tiến thành lập sư đoàn không quân ngụy đứng chân tại sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) để tập dượt dần việc cơ động yểm trợ hành quân và tham gia các phi vụ đánh phá. Đồng thời Mỹ đã tăng cường thêm hơn 200 tàu xuồng chiến đấu cho hải quân ngụy để làm nhiệm vụ càn quét, tuần phòng trên các kênh rạch...

Rõ ràng trên mặt trận bình định và chống bình định ở Tây Nam Bộ đang đòi hỏi chúng tôi khẩn trương lên đường, để có mặt ở noi đó càng sớm càng tốt. Nhưng lại không vì thế mà đại khái qua loa trong chuẩn bị. Bài học cụ thể, tỉ mỉ mà chúng tòi phải trả giá trong đợt hoạt động xuân hè năm 1969, trong các trận đánh căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, Phước Vĩnh vẫn đang còn rất nóng hổi. Hơn nữa, đây là chuyến đi xa, luồn sâu vào một chiến trường mới lạ, với hình dáng địa hình cực kỳ phức tạp càng khiến chúng tôi phải thận trọng và Bộ tư lệnh Miền cũng nhắc như thế. Bởi chúng tồi đến đấy không chỉ để giấu quân lót ổ, ém sẵn, chờ thời cơ, mà là phải chủ động tổ chức đánh địch theo mục tiêu chỉ định chứ không được tự do lựa chọn; đồng thời phải trụ bám đối mặt với các trận phản kích của địch, phân tán xé lẻ lực lượng địch, vô hiệu hóa lực lượng kìm kẹp của địch để hỗ trợ có hiệu quả cho nhân dân mở vùng mở mảng, phá thế kìm kẹp của địch, tạo ra nhiều căn cứ “lõm”, nhiều vùng làm chủ liên hoàn, góp phần làm phá sản chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” ở nơi mà địch đặt nhiều hy vọng nhất.

Đúng đây là dịp tốt để thực hiện phương thức thứ tư của tác chiến đặc công - Hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích trong các chiến dịch giải phóng nông thôn... mà các anh ở Bộ tư lệnh binh chủng đã kịp thời tổng kết sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Bây giờ chỉ còn lo sao tìm ra các biện pháp có hiệu quả trong thực hiện.

Nơi mà đơn vị họp thành bộ binh - đặc công đến làm nhiệm vụ là một vùng thôn ấp thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (tây nam Châu Đốc - An Giang). Nhìn lên bản đồ quân sự và qua tình hình địch do Cục tác chiến Miền cung cấp, chúng tôi nhận ra ngay đây là một vùng sâu trong hệ thống phòng thủ hướng tây bắc của “vùng 4 chiến thuật”, có cấu trúc địa hình phức tạp với hệt thống kênh rạch chằng chịt, có sình lầy xen kẽ nên địch rất chủ quan, chưa bao giờ chúng nghĩ “Việt cộng” (chỉ các lực lượng vũ trang giải phóng) có khả năng tiến công nơi đây. Ngoài hai chi khu quân sự Tịnh Biên, Tri Tôn và hai căn cứ quân sự Vĩnh Trung, Ba Soài, đồn bót địch ở đây không nhiều, nhưng có giá trị khống chế và kìm kẹp một tứ giác rộng: Châu Đốc - Hà Tiên - Rạch Giá - Long Xuyên, nhất là vùng đông dân tây đường 10 - Châu Đốc - Long Xuyên. Nhưng ở đây cũng có khu Bảy Núi, với nhiều hang sâu hiểm trở, ta có thể dựa vào đó làm nơi bám đánh địch và tổ chức tiến công địch. Sự chọn điểm tiến công sáng suốt này của Bộ tư lệnh Miền đã tạo một thuận lợi rất cơ bản để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên làm sao tiếp cận được tới đó và khi đến nơi rồi, việc tổ chức ăn ở thế nào để tồn tại mà lo đánh giặc mới là điều mà giờ đây chúng tôi đang thực sự quan tâm.
-
Sau khi ở cơ quan Bộ tham mưu Miền về, tôi và anh Ba Trân tranh thủ trao đổi những việc chung phải làm, phân công nhau về quán triệt nhiệm vụ cụ thể cho mỗi đơn vị mà mình trực tiếp phụ trách.

Bốn tiểu đoàn đặc công tham gia cuộc hành quân lật cánh sang mặt trận Tây Nam Bộ đã về đủ tại địa điểm tập trung:

Đó là tiểu đoàn 3 do anh Lan làm tiểu đoàn trưởng, anh Kế chính trị viên; tiểu đoàn 4 do anh Tư Doanh làn tiểu đoàn trưởng, anh Ngân chính trị viên; tiểu đoàn 5 do anh Hoàn làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn 7 do anh Mười Thọ làm tiểu đoàn trưởng.

Hầu hết cán bộ, chiến sĩ của bốn tiểu đoàn đã cùng tôi qua các mặt trận chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, qua đợt hoạt động xuân-hè năm 1969 và qua những giờ
phút đối mặt đầy căng thẳng với lính Mỹ ở căn cứ Đồng Dù, Dầu Tiếng, Phước Vĩnh, Tếch-ních và Bù Na, v.v... vậy mà trên gương mặt của anh em lúc này đây vẫn phơi phới lạc quan và hăm hơ lên đường.

Đã hiểu nhau, thương nhau và hết mình vì nhau qua những ngày chiến đấu gian khổ, giờ đây trước lức lên đường bước vào một thử thách mới lại thương nhau thật nhiều. Nói ít mà hiểu nhiều, động viên cũng rất cần nhưng ai nấy đều thấy được trách nhiệm tự thân, tự thấy nhiệm vụ, tự thấy việc cần làm mà chủ động làm, với ý thức chuẩn bị thật tốt cho một chuyến lên đường đi xa, vào vùng sâu phía sau trận tuyến phòng ngự của địch.

Khi nghe tôi phổ biến địa danh phải đến, hướng tiến công phải thắng thì anh em càng mừng rỡ, càng phấn khởi, càng tin tưởng. Một nơi hiểm yếu nhưng địch lại có nhiều sơ hở, đó là thuận lợi và cùng là nguyên tắc chọn lựa của chúng ta trong khi tổ chức tiến công.

Dẫu rằng biết sẽ có nhiều khó khăn trên con đường hoàn thành nhiệm vụ, nhưng chúng tôi đã tin phần thắng ngay trước khi lên đường. Có được ưu điểm này vì chúng tôi đã có thực tế qua hai mùa khô đánh giặc trên Đất Miền Đông. Giờ đây khi nhiệm vụ đã chuyển về Tây Nam Bộ, chúng tồi lại càng tin khi được Bộ tư lệnh Miền chọn hướng tiến công trước cho chúng tôi một hướng tiến công lý tưởng, nếu chúng tôi sáp vô được, tổ chức nổ súng và chỉ huy chiến đấu tốt thì tác dụng của trận đánh sẽ vượt ra ngoài không gian mà chuyển rung đến toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng, làm đảo lộn ý đồ thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn