BCH Đoàn phường Nguyễn Uý (138)
TUỔ I TRẺ PHƯỜ NG NGUYẺ N ÚY TƯ HÀO QUÊ HƯỜNG
MANG TÊN NGƯ ỜI LÃO THÀNH CÁCH M ẠNG
Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, Hà Nam không
chỉ nổi tiếng với truyền thống văn hóa lâu đời mà còn là vùng đất giàu truyền thống cách
mạng. Nơi đây đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều người con ưu tú, sẵn sàng hy sinh vì độc lập,
tự do của Tổ quốc. Những chiến sĩ cách mạng ở Hà Nam đã góp phần quan trọng vào các
phong trào đấu tranh, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Trần Tử Bình
Trần Tử Bình (1907–1967), tên thật Phạm Văn Phu, là một tướng lĩnh, nhà cách mạng và nhà
ngoại giao Việt Nam. Ông là một trong 11 vị tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt
Nam, đồng thời giữ vai trò Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc giai đoạn 1959–1967. Cuộc đời
ông gắn liền với phong trào công nhân, các cuộc khởi nghĩa tiền khởi nghĩa và sự nghiệp
|
kháng chiến chống Pháp.
Tiểu sử:
• Tên khai sinh: Phạm Văn Phu• Năm sinh – mất: 1907 – 1967
• Quê quán: Tiêu Động, Bình Lục, Hà Nam (nay thuộc Ninh Bình)
• Cấp bậc cao nhất: Thiếu tướng (1948)
• Chức vụ đáng chú ý: Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Thanh tra Quân đội, Đại
sứ tại Trung Quốc
Khởi đầu ông là công nhân cao su tại Phú Riềng, Trần Tử Bình sớm giác ngộ cách
mạng và lãnh đạo cuộc bãi công 5.000 công nhân năm 1930 – sự kiện “Phú Riềng
Đỏ” mở đầu truyền thống đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam. Ông bị bắt,
đày ra Côn Đảo Prison, nơi được coi là “trường học cách mạng”, rồi nhiều lần vượt
ngục, tiếp tục hoạt động bí mật tại Bắc Kỳ.
Năm 1945, khi còn là Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, ông cùng Nguyễn Khang phát
lệnh Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội và các tỉnh Bắc Bộ. Đây là quyết định mang tính bước
ngoặt góp phần dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông đảm nhiệm xây dựng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn
(tiền thân Trường Sĩ quan Lục quân), rồi làm Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, chỉ huy
mặt trận Sông Lô (1947). Tháng 1 năm 1948, ông được Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong
quân hàm Thiếu tướng – một trong những vị tướng đầu tiên của quân đội cách mạng.
Sau kháng chiến, ông giữ chức Tổng Thanh tra Quân đội, Phó Tổng Thanh tra Chính
phủ, góp phần sửa sai trong Cải cách ruộng đất.
Từ năm 1959 đến khi qua đời, ông là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa tại Trung Quốc và kiêm nhiệm tại Mông Cổ, góp phần thắt chặt quan hệ
hữu nghị và vận động sự hỗ trợ quốc tế cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
Trần Tử Bình được truy tặng nhiều huân chương cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh
(2001) và Huân chương Sao Vàng (2008). Nhà lưu niệm ông tại xã Bình Sơn, Ninh Bình, cùng
những công trình mang tên ông thể hiện lòng tri ân đối với người cộng sản kiên trung, tấm
gương “Cần – Kiệm – Liêm – Chính, Chí công – Vô tư”.
Từ tấm gương của Trần Tử Bình, thế hệ trẻ hôm nay, đặc biệt là thanh niên tại phường
Nguyễn Úy, cần biết “noi gương” bằng những hành động cụ thể và thiết thực. Noi gương
không chỉ là học theo bề ngoài mà là học tinh thần, ý chí và nghị lực vượt khó để hoàn thiện
bản thân . Đó có thể là hình ảnh những bạn học sinh chăm chỉ học tập mỗi ngày, những
đoàn viên tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, hay những người trẻ dám ước mơ và nỗ
lực vươn lên trong cuộc sống.Noi gương giống như việc “soi mình vào một tấm gương sáng”: nhìn vào đó để thấy
mình còn thiếu gì, cần cố gắng ra sao. Nếu Trần Tử Bình đã kiên cường vượt qua gian khổ để
cống hiến cho đất nước, thì thế hệ trẻ hôm nay cần kiên trì trong học tập, sống có trách
nhiệm và biết đóng góp cho cộng đồng. Việc noi gương phải xuất phát từ sự chân thực, từ
những việc làm nhỏ nhưng ý nghĩa, chứ không chỉ là hình thức bên ngoài .
Qua đó, mỗi người trẻ ở phường Nguyễn Úy không chỉ tiếp nối truyền thống quê hương
mà còn tự trở thành những “tấm gương nhỏ”, góp phần xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp




