Bế Văn Đàn
Chiến tranh đã qua đi, những hạt bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những vị anh
hùng xưa , những con người đã dùng máu và nước mắt của mình tô lên hai chữ độc lập của dân
tộc.Nhưng mặc cho thế nào những con người mang trong mình dòng máu Việt Nam đầy tự hào
ấy luôn đâu đó mang một lòng biết ơn ấp ủ trong thâm tâm họ.Bởi họ biết, nếu không có những
người nằm xuống thì sẽ không có cái ngày mà mọi người được phất cao lá cờ đỏ sao vàng đầy ý
nghĩa, sẽ không có những hình ảnh hoà bình tuyệt đẹp như hiện nay. Những con người dũng cảm
ngày xưa ấy, họ đã từ bỏ rất nhiều để có thể mang lại hình ảnh Việt Nam tươi đẹp như hôm nay.
Anh hùng Việt Nam thì nhiều vô kể bởi ai cũng đều đã chung một tay để xây dựng nên mảnh đất
hoà bình ngày nay nhưng những vị anh hùng đã ra đi trong chiến tranh, trong tiếng súng, tiếng
khóc tiếng than của những người thân, người đồng chí thật sự có thể khiến con cháu đời sau rung
động khi nghe được hành trình bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc đầy quả cảm của họ.Đối với bản
thân tôi,Bế Văn Đàn chính là vị anh hùng ấy, vị anh hùng đã gây rung động với tôi khi được
nghe, được kể lại hành trình hi sinh đáng tự hào của chính anh.
Bế Văn Đàn sinh năm 1931, dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu Âu), huyện Phục
Hoà, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng đã ươm
mầm cho anh lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước. Tháng 1 năm 1948, anh đã
xung phong vào bộ đội và tham gia nhiều chiến dịch, anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích
cực vượt qua mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh nghiêm túc bởi
trong tim anh luôn đặt đất nước lên hàng đầu. Sau này, trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt, anh Bế Văn Đàn đang làm liên lạc tiểu đoàn.Một đại đội của
tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây giữ địch ở Mường Pồn. Lúc ấy cuộc chiến đấu diễn ra
căng thẳng và quyết liệt, địch liều chết xông lên còn quân ta kiên quyết ngăn chặn, chốt giữ. Bế
Văn Đàn khi ấy mới đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, anh đã không kiềm lòng
được quyết xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Chắc khi ấy anh đã có thể hiểu được sự khó
khăn, khốc liệt nơi chiến trường nhưng anh chấp nhận tất cả, anh sẵn sàng chấp nhận hy sinh chỉ
mong được lên đường đi cứu nước. Mặc cho bom rơi, đạn nổ, anh vẫn dũng cảm vượt qua lưới
đạn dày đặc của địch, xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời. Trong khi đó, trận đấu
diễn ra ngày càng ác liệt hơn, anh được mệnh lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Sau một khoảng thời
gian chiến đấu đại đội đã bị thương vong nhiều người, bản thân Bế Văn Đàn lúc ấy cũng đã bị
thương nhưng anh vẫn tiếp tục chiến đấu. Đột nhiên, một khẩu trung liên của đơn vị không bắn
được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt
súng, đối mặt với tình huống căng thẳng, khắc nghiệt như thế anh Bế Văn Đàn không ngần ngại
chạy đến cầm khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô bạn bắn. Khi Chu Văn Pù còn do dự thì Bế
Văn Đàn lại cương quyết nói :” Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó
đi “.
Chỉ qua một câu nói có thể hiểu được ý chí kiên cường, dũng cảm của chàng trai trẻ trước cửa tử,
mặc cho phải chết anh cũng nhất quyết bằng lòng, chàng trai ấy đã phải chịu rất nhiều đau khổ
cuối cùng chấp nhận sẵn lòng hy sinh vì tổ quốc,vì đồng bào còn đang chờ anh mang vinh quang
chiến thắng trở về . Trong khoảnh khắc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn đã bị thêm hai
vết thương nữa và anh đã anh dũng hy sinh trong khi hai tay vẫn luôn ghì chặt súng trên vai
mình. Dù đau đớn cỡ nào nhưng khi nghĩ đến quê hương, đến tổ quốc và cả những người đồng
chí đã hy sinh trong cuộc chiến vừa rồi như tiếp thêm sức mạnh cho anh để anh có thể nắm chắc
chân súng trên vai mặc cho đôi mắt anh đã nhắm nghiền, bản thân đã trút hơi thở cuối trên chiến
trường đầy ác liệt ấy. Tấm gương dũng cảm của anh đã tiếp thêm tinh thần chiến đấu cho những
người đồng đội, những cán bộ, chiến sĩ đang chiến đấu khốc liệt như anh. Bế Văn Đàn đã làm
một người anh hùng liệt sĩ cùng hàng ngàn các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống lúc tuổi đôi mươi,
góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” và đến Đại
thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử. Với những cống hiến cao cả đó, anh không những là một tấm
gương, một niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Cao Bằng mà còn là niềm tự hào của nhân dân
cả nước.
Hình ảnh người chiến sĩ trẻ tuổi luôn kiên cường, bất khuất ấy vẫn mãi đọng lại sâu trong tâm trí
của những người con đất Việt, những người mà anh đã dùng cả mạng sống để đem lại hoà bình
cho họ. Có thể trước khi lên chiến trường Bế Văn Đàn cũng run sợ hay do dự đôi chút, nhưng khi
ngẫm lại lý do để anh được mang bộ đồng phục người lính, được mọi người đặt niềm tin to lớn
lên vai chính là để bảo vệ tổ quốc. Anh không ngần ngại trước kẻ thù gian ác mà xung phong để
được xông pha vào chiến trường cùng hỗ trợ những người chiến sĩ khác để mang lại niềm tự hào
cho dân tộc. Các chiến sĩ đã hy sinh để mang lại chiến thắng đầy vinh quang và cả mồ hôi, nước
mắt để phất cao lá cờ Việt Nam trong làn gió của hoà bình, của tình yêu. Để bày tỏ tấm lòng biết
ơn đối với người chiến sĩ đã phải từ bỏ thanh xuân tươi đẹp để bước những bước chân nặng trĩu
nơi chiến trường ấy, Nhà nước đã trao tặng anh danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
và Huân chương quân công hạng nhì , không chỉ thế mọi người dân luôn nhớ đến công lao của
anh mà lấy tên anh làm tên cho các trường học, con đường, không chỉ một phần bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc, mà còn một niềm tin nho nhỏ rằng nơi con đường mang tên anh thì sẽ luôn được
chàng chiến sĩ trẻ ấy âm thầm bảo vệ. Hình ảnh chàng trai trẻ tuổi cầm chặt chân súng trên đôi
vai tuy gầy guộc nhưng lại vững chắc ấy sẽ luôn đọng mãi trong từng trái tim người Việt và
cũng là tấm gương sáng cho những thế hệ trẻ ngày nay theo bước như anh mà bảo vệ và phát
triển đất nước có thể sánh vai với các cường quốc năm châu như lời dạy bảo của vị lãnh đạo uy
nghiêm đầu tiên của đất nước Việt Nam.


