Bài viết

Bế Văn Đàn

Đà Nẵng28/12/2025Đoàn phường Hải Châu (Đoàn phường Hải Châu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến tranh đã qua đi, những hạt bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những vị anh

hùng xưa , những con người đã dùng máu và nước mắt của mình tô lên hai chữ độc lập của dân

tộc.Nhưng mặc cho thế nào những con người mang trong mình dòng máu Việt Nam đầy tự hào

ấy luôn đâu đó mang một lòng biết ơn ấp ủ trong thâm tâm họ.Bởi họ biết, nếu không có những

người nằm xuống thì sẽ không có cái ngày mà mọi người được phất cao lá cờ đỏ sao vàng đầy ý

nghĩa, sẽ không có những hình ảnh hoà bình tuyệt đẹp như hiện nay. Những con người dũng cảm

ngày xưa ấy, họ đã từ bỏ rất nhiều để có thể mang lại hình ảnh Việt Nam tươi đẹp như hôm nay.

Anh hùng Việt Nam thì nhiều vô kể bởi ai cũng đều đã chung một tay để xây dựng nên mảnh đất

hoà bình ngày nay nhưng những vị anh hùng đã ra đi trong chiến tranh, trong tiếng súng, tiếng

khóc tiếng than của những người thân, người đồng chí thật sự có thể khiến con cháu đời sau rung

động khi nghe được hành trình bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc đầy quả cảm của họ.Đối với bản

thân tôi,Bế Văn Đàn chính là vị anh hùng ấy, vị anh hùng đã gây rung động với tôi khi được

nghe, được kể lại hành trình hi sinh đáng tự hào của chính anh.

Bế Văn Đàn sinh năm 1931, dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu Âu), huyện Phục

Hoà, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng đã ươm

mầm cho anh lòng yêu nước và ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước. Tháng 1 năm 1948, anh đã

xung phong vào bộ đội và tham gia nhiều chiến dịch, anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích

cực vượt qua mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh nghiêm túc bởi

trong tim anh luôn đặt đất nước lên hàng đầu. Sau này, trong cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt, anh Bế Văn Đàn đang làm liên lạc tiểu đoàn.Một đại đội của

tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây giữ địch ở Mường Pồn. Lúc ấy cuộc chiến đấu diễn ra

căng thẳng và quyết liệt, địch liều chết xông lên còn quân ta kiên quyết ngăn chặn, chốt giữ. Bế

Văn Đàn khi ấy mới đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, anh đã không kiềm lòng

được quyết xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Chắc khi ấy anh đã có thể hiểu được sự khó

khăn, khốc liệt nơi chiến trường nhưng anh chấp nhận tất cả, anh sẵn sàng chấp nhận hy sinh chỉ

mong được lên đường đi cứu nước. Mặc cho bom rơi, đạn nổ, anh vẫn dũng cảm vượt qua lưới

đạn dày đặc của địch, xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời. Trong khi đó, trận đấu

diễn ra ngày càng ác liệt hơn, anh được mệnh lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Sau một khoảng thời

gian chiến đấu đại đội đã bị thương vong nhiều người, bản thân Bế Văn Đàn lúc ấy cũng đã bị

thương nhưng anh vẫn tiếp tục chiến đấu. Đột nhiên, một khẩu trung liên của đơn vị không bắn

được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt

súng, đối mặt với tình huống căng thẳng, khắc nghiệt như thế anh Bế Văn Đàn không ngần ngại

chạy đến cầm khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô bạn bắn. Khi Chu Văn Pù còn do dự thì Bế

Văn Đàn lại cương quyết nói :” Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó

đi “.

Chỉ qua một câu nói có thể hiểu được ý chí kiên cường, dũng cảm của chàng trai trẻ trước cửa tử,

mặc cho phải chết anh cũng nhất quyết bằng lòng, chàng trai ấy đã phải chịu rất nhiều đau khổ

cuối cùng chấp nhận sẵn lòng hy sinh vì tổ quốc,vì đồng bào còn đang chờ anh mang vinh quang

chiến thắng trở về . Trong khoảnh khắc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn đã bị thêm hai

vết thương nữa và anh đã anh dũng hy sinh trong khi hai tay vẫn luôn ghì chặt súng trên vai

mình. Dù đau đớn cỡ nào nhưng khi nghĩ đến quê hương, đến tổ quốc và cả những người đồng

chí đã hy sinh trong cuộc chiến vừa rồi như tiếp thêm sức mạnh cho anh để anh có thể nắm chắc

chân súng trên vai mặc cho đôi mắt anh đã nhắm nghiền, bản thân đã trút hơi thở cuối trên chiến

trường đầy ác liệt ấy. Tấm gương dũng cảm của anh đã tiếp thêm tinh thần chiến đấu cho những

người đồng đội, những cán bộ, chiến sĩ đang chiến đấu khốc liệt như anh. Bế Văn Đàn đã làm

một người anh hùng liệt sĩ cùng hàng ngàn các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống lúc tuổi đôi mươi,

góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” và đến Đại

thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử. Với những cống hiến cao cả đó, anh không những là một tấm

gương, một niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Cao Bằng mà còn là niềm tự hào của nhân dân

cả nước.

Hình ảnh người chiến sĩ trẻ tuổi luôn kiên cường, bất khuất ấy vẫn mãi đọng lại sâu trong tâm trí

của những người con đất Việt, những người mà anh đã dùng cả mạng sống để đem lại hoà bình

cho họ. Có thể trước khi lên chiến trường Bế Văn Đàn cũng run sợ hay do dự đôi chút, nhưng khi

ngẫm lại lý do để anh được mang bộ đồng phục người lính, được mọi người đặt niềm tin to lớn

lên vai chính là để bảo vệ tổ quốc. Anh không ngần ngại trước kẻ thù gian ác mà xung phong để

được xông pha vào chiến trường cùng hỗ trợ những người chiến sĩ khác để mang lại niềm tự hào

cho dân tộc. Các chiến sĩ đã hy sinh để mang lại chiến thắng đầy vinh quang và cả mồ hôi, nước

mắt để phất cao lá cờ Việt Nam trong làn gió của hoà bình, của tình yêu. Để bày tỏ tấm lòng biết

ơn đối với người chiến sĩ đã phải từ bỏ thanh xuân tươi đẹp để bước những bước chân nặng trĩu

nơi chiến trường ấy, Nhà nước đã trao tặng anh danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

và Huân chương quân công hạng nhì , không chỉ thế mọi người dân luôn nhớ đến công lao của

anh mà lấy tên anh làm tên cho các trường học, con đường, không chỉ một phần bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc, mà còn một niềm tin nho nhỏ rằng nơi con đường mang tên anh thì sẽ luôn được

chàng chiến sĩ trẻ ấy âm thầm bảo vệ. Hình ảnh chàng trai trẻ tuổi cầm chặt chân súng trên đôi

vai tuy gầy guộc nhưng lại vững chắc ấy sẽ luôn đọng mãi trong từng trái tim người Việt và

cũng là tấm gương sáng cho những thế hệ trẻ ngày nay theo bước như anh mà bảo vệ và phát

triển đất nước có thể sánh vai với các cường quốc năm châu như lời dạy bảo của vị lãnh đạo uy

nghiêm đầu tiên của đất nước Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn